Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 180/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 25-02-2021
V/v “Tranh chấp về ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hữu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
  2. Bà Nguyễn Thị Thuần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1048/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 999/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2021/QĐST-HNGĐ ngày 29/01/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị N. (xin vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố 3C, phường TL, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Đỗ Huy C. (vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố 3C, phường TL, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 8 năm 2020, bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 31/12/2020 (nội dung thể hiện không tiến hành hòa giải được về việc giải quyết vụ án) cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Bà N và ông Đỗ Huy C tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 1996 đến năm 2011 thì tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 07/6/2011 và có 04 (bốn) con chung tên Đỗ Thị H sinh ngày 16/01/1997 (đã trưởng thành), Đỗ Thị C sinh ngày 02/01/1999 (đã trưởng thành), Đỗ Thị Thanh H sinh ngày 26/11/2006 và Đỗ H sinh ngày 25/6/2012. Trong thời gian chung sống cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã nhau do vấn đề kinh tế gia đình; ông C say xỉn, đánh đập vợ con; hai vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, dù nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Sự rạn nứt tình cảm giữa hai vợ chồng dần trở nên trầm trọng dẫn đến hạnh phúc không còn. Cho nên, bà N không thể sống chung với ông C được nữa nên yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà N có nguyện vọng nuôi 02 (hai) con tên Đỗ Thị Thanh H sinh ngày 26/11/2006 và Đỗ H sinh ngày 25/6/2012 và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Phía bị đơn ông Đỗ Huy C vắng mặt không rõ lý do. Tại Bản tự khai ngày 10/11/2020 ông C đã xác nhận quá trình kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng như lời bà N trình bày nhưng ông vẫn còn thương vợ con, không muốn ly hôn. Trường hợp nếu Tòa giải quyết cho ly hôn thì ông C yêu cầu được nuôi dưỡng 02 (hai) con tên Đỗ Thị Thanh H sinh ngày 26/11/2006 và Đỗ H sinh ngày 25/6/2012 và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết. Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thảo luận của hội đồng xét xử, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự tranh chấp với nhau về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do bị đơn đang cư trú tại Quận 12 nên căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về yêu cầu của các đương sự: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị N trên cơ sở căn cứ vào lời tự khai của đương sự, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Trần Thị N và ông Đỗ Huy C tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 07/6/2011 tại UBND xã T, huyện T Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Cho nên, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân giữa bà N và ông C là hôn nhân hợp pháp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 147, 238, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Bà Trần Thị N được ly hôn với ông Đỗ Huy C.

2. Về con chung: Giao trẻ Đỗ Thị Thanh H sinh ngày 26/11/2006 cho ông C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, còn trẻ Đỗ H sinh ngày 25/6/2012 thì giao cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cho đến khi các con chung thành niên. Đôi bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân TP.HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân Quận 12;
- Thi hành án Dân sự Quận 12;
- Các đương sự;
- UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trương Hữu Hạnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2021/HNGĐ-ST ngày 25/02/2021 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 180/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger