Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31 - 7 - 2024

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hệ; bà Nguyễn Thị Bá Thiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/5/2024 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 10/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1966.

HKTT: Số H, ngõ B đường L, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1984.

HKTT: Số E đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Cháu Nguyễn Thị Hồng A, sinh ngày 30/5/2007.

Người đại diện hợp pháp cho cháu: Bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn P - Bố mẹ đẻ cháu.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1989. Trú tại: Ấp cây thông trong, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1951. Trú tại: Số nhà E đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Phúc trình bày:

Năm 2004 ông ly hôn với người vợ là Nguyễn Thị Y, con chung, tài sản chung đã giải quyết xong. Sau ly hôn ông có quan hệ chung sống với Nguyễn Thị O, đến năm 2007 thì bà O sinh cháu Nguyễn Thị Hồng A. Cháu Hồng A ở với ông và bà O từ nhỏ, ông nuôi cháu ăn học. Khi đi làm giấy khai sinh, bà O chỉ khai lý lịch phần mẹ, không có phần bố vì lúc đó ông và bà O chưa đăng ký kết hôn. Ngày 04/03/2021, tại UBND phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên ông và bà O hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc đã đăng ký kết hôn. Từ khi chung sống với ông, hàng ngày ông đi làm thợ xây, bà O làm phu hồ cho tổ xây của ông. Nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt của ông đã có sẵn, bà O và con chỉ việc ở cùng, không phải mua sắm gì. Vợ chồng ông chung sống với nhau trước và sau khi đăng ký kết hôn, không có mâu thuẫn gì. Cuối năm 2021 ông bị đột quỵ, phải đi cấp cứu, sau thời gian nằm điều trị tại Bệnh viện rồi về nhà thực hiện phục hồi chức năng. Đầu năm 2022 ông lại bị lại, nhưng vẫn nhận thức được mọi vấn đề chỉ không đi làm thợ xây được nữa vì sức khỏe yếu và hoạt động cá nhân bị chậm lại không nhanh nhẹn như trước. Do ông không đi làm được nên kinh tế không có, sức khỏe lại yếu nên bà O sinh ra chán. Ăn tết xong năm 2023 bà O cho con bỏ về nhà đẻ ở tại số nhà E đường N, phường H, thành phố H. Bà O bỏ mặc ông ở lại nhà một mình trong khi biết tình trạng sức khỏe của ông như vậy. Từ lúc bà O bỏ đi, ông được hàng xóm mua đồ ăn cho, không tắm giặt được, cuộc sống rất vất vả, khó khăn, các con riêng đều ở trong miền N. Nay, ông nhận thấy bà O không thương yêu gì ông, Ông xin ly hôn với bà O.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Hồng A, sinh ngày 30/5/2007. Cháu hiện ở cùng với mẹ. Khi ly hôn ông để cháu ở với bà O, ông không cấp dưỡng nuôi cháu, vì điều kiện hoàn cảnh hiện nay ông không thể cấp dưỡng nuôi cháu được. Ông cũng không yêu cầu bà O phải hỗ trợ gì cho bản thân ông về kinh tế sau khi ly hôn.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có, không đề nghị giải quyết.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn bà Nguyễn Thị O đến làm việc và hòa giải. Bà đều nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến. Do vậy, Tòa án không lấy được lời khai của bà O và cũng không tiến hành hòa giải được.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Thị Hồng A trình bày: Cháu là con gái của bố P và mẹ O. Từ nhỏ cháu ở cùng bố mẹ. Ăn tết xong năm 2023 thì bố P đuổi mẹ con cháu đi nên hai mẹ con cháu về bà ngoại ở. Nay bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng xin được ở với mẹ O. Việc cấp dưỡng nuôi cháu do bố mẹ tự thỏa thuận với nhau.

Người làm chứng anh Nguyễn Thanh H trình bày: Anh là con đẻ của ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Y, bố mẹ anh thuận tình ly hôn năm 2004. Năm 2006 anh vào N ở với mẹ. Cuộc sống ngoài này chỉ có mình ông P. Khi ông P chung sống với bà Nguyễn Thị O như thế nào anh không biết. Cuối năm 2021 ông P bị đột quỵ, đầu năm 2022 lại bị lại lần nữa thì bà O có gọi điện thông báo cho anh biết. Anh thu xếp ra ngoài thăm ông được vài bữa lại phải vào N để làm việc. Khi ở nhà ông P, anh thấy có Hồng A cũng ở đó, Hồng A gọi ông P bằng bố, còn Hồng A có phải là con đẻ của ông P không thì anh không biết. Do ăn xong tết năm 2023 bà O, Hồng A bỏ nhà đi, để mặc cho ông P một mình ở nhà bệnh tật, không có ai chăm sóc. Công việc của anh không thể ở mãi ngoài này chăm sóc ông P được, anh đề nghị Tòa án tạo điều kiện sớm giải quyết ly hôn cho ông P để ông sớm ổn định cuộc sống về sau. Anh và ông P, bà O không có liên quan gì đến tài sản hay nợ chung.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà là mẹ đẻ chị O, mẹ vợ anh P. Việc chị O và anh P đăng ký kết hôn bà không biết. Ăn tết xong năm 2023 (vào đầu năm 2024 dương lịch) chị O mang con về nhà bà ở cho đến nay. Chị O có bảo là do anh P đuổi chị đi. Anh P và con riêng có đến tìm gặp chị O nhưng chị không gặp mặt. Nay, anh P xin ly hôn chị O là việc của vợ chồng chị O tự giải quyết.

Tòa án đã mở phiên tòa ngày 22 tháng 7 năm 2024, bị đơn Nguyễn Thị O vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay: Ông Nguyễn Văn P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Bà Nguyễn Thị O vắng mặt lần 2 không có lý do, vì vậy HĐXX căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết, xét xử vắng mặt các đương sự.

- Quan điểm của đại diện VKSND thành phố Hưng Yên:

+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã chấp hành nghiêm chỉnh trình tự thủ tục kể từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xử cho đến quá trình xét xử công khai tại phiên tòa. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 71, 73, 78 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

+ Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 88 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Đề nghị HĐXX tuyên xử ông P được ly hôn bà O; giao cháu Hồng A cho bà O nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung ông P không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; ông P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn P yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị O có hộ khẩu thường trú: Số E đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên. Quan hệ pháp luật là “Ly hôn”.

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn P có đơn xin xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị O đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông P và bà O theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị O kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên ngày 04/03/2021, như vậy hôn nhân giữa ông P và bà O là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của ông P: Ông P cũng như hai bên gia đình, chính quyền địa phương đều khẳng định cuộc sống vợ chồng ông có mâu thuẫn. Tại biên bản xác minh ngày 09/7/2024 (BL52), trưởng khu phố P cung cấp “Trong cuộc sống ông P và bà O thỉnh thoảng có cãi nhau, bà O hay bỏ về nhà đẻ”. Tại các biên bản lấy lời của ông P, cháu Hồng A, người làm chứng đều khẳng định sau khi ông P bị đột quỵ, ăn tết xong năm 2023 thì bà O và con về nhà đẻ ở cho đến nay, ông P phải ở lại nhà một mình. Ông P cho rằng bà O tự bỏ đi, cháu Hồng A khẳng định do ông P đuổi mẹ con cháu đi. Như vậy, mâu thuẫn đỉnh điểm của vợ chồng ông P là do sau khi ông bị đột quỵ sức khỏe yếu, không làm kinh tế được. Bà O đã bỏ mặc ông P sau khi ăn tết xong năm 2023 trong khi ông đang bệnh tật, cần có người chăm sóc hàng ngày. Trong quá trình giải quyết vụ án bà O không đến Tòa án bày tỏ quan điểm về việc ông P xin ly hôn, chứng tỏ bà O cũng không thiết tha cuộc sống vợ chồng với ông P. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời khai của bà N - mẹ đẻ bà O (BL53). Qua phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cuộc sống giữa ông P và bà O không còn quan tâm đến nhau, đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên việc ông P xin ly hôn bà O là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[2.3] Về con chung: Vợ chồng ông P có một con chung là Nguyễn Thị Hồng A, sinh ngày 30/5/2007. Cháu Hồng A được sinh ra trước khi ông P và bà O đăng ký kết hôn ngày 04/03/2021. Mặc dù bà O không đến Tòa án làm việc để trình bày cháu H1 Anh có phải là con chung của vợ chồng hay không. Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 luật Hôn nhân và gia đình quy định “con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”. Quá trình giải quyết vụ án ông P thừa nhận cháu Hồng A là con của ông và bà O. Mặt khác, nguyện vọng của cháu Hồng A xin được ở với mẹ, hiện nay cháu cũng đang ở với mẹ và bà ngoại. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu Hồng A cho bà O, chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông P có quan điểm không cấp dưỡng nuôi cháu Hồng A. Theo quy định tại khoản 2 Điều 82; Điều 110 luật Hôn nhân gia đình thì ông P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hồng A sau ly hôn. Nhưng hiện nay ông không có khả năng kinh tế, không đi làm được, bản thân còn cần đến người khác chăm sóc, nên việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu bà O không nhất trí về việc cấp dưỡng nuôi con chung, hoặc có yêu cầu khác về nuôi con, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn, ông P không yêu cầu bà O phải có nghĩa vụ cấp dưỡng ông theo quy định tại Điều 107; Điều 115 luật Hôn nhân gia đình năm 2014, vì ông đã có các con riêng của mình lo chăm sóc cho ông sau ly hôn. Xét đây là sự tự nguyện của ông P nên được chấp nhận.

[2.4] Về tài sản chung: Ông P không yêu cầu giải quyết. Bà O không đến Tòa nên Hội đồng xét xử không biết quan điểm của chị về tài sản. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí: Ông Nguyễn Văn P phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn P được ly hôn bà Nguyễn Thị O.

[2]. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Hồng A, sinh ngày 30/5/2007 cho bà Nguyễn Thị O, trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Nếu sau này bà O có đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con, Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[3]. Về tài sản: Ông P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[4]. Về án phí: Ông Nguyễn Văn P phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông P đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0000423 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên. Ông P đã nộp đủ án phí.

[5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận.

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS T.P Hưng Yên;
  • - Phòng kiểm tra án Tòa án tỉnh Hưng Yên;
  • - UBND phường Hiến Nam;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn

  • Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh P xin ly hôn chị O
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger