Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày 31-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Ngọc Ứng;
  2. Bà Trương Thị Bé Sáu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ và ông Trần Lam Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Phan Du L, sinh ngày 01/01/1994 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phan Văn B, sinh năm 1958 và bà Đặng Thị S, sinh năm 1960; gia đình có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ, Con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Chưa có; tạm giữ: Từ ngày 06/11/2023 đến ngày 14/11/2023 hủy bỏ biện pháp tạm giữ; tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  2. Nguyễn Xuân B1, sinh ngày 01/01/1990 tại Đồng Tháp (đồng thời là bị hại trong vụ án); nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1958; gia đình có 07 anh, em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Chưa có; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Nguyễn Xuân T, sinh năm 1985 (có mặt);
  2. Nguyễn Xuân B1, sinh ngày 01/01/1990 (là bị cáo trong vụ án, có mặt)
  3. Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  4. Tô Thanh T1, sinh năm 1997 (có mặt);

    Nơi cư trú: Ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Phan Du Ý, sinh năm 1999 (có mặt);

    Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Thái Thị L1, sinh năm 1977 (vắng mặt);

    Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Thị B2, sinh năm 1956 (có mặt);
  2. Nguyễn Văn N, sinh năm 1952 (vắng mặt);
  3. Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1978 (có mặt);
  4. Thái Thị Bé N1, sinh năm 1993 (vắng mặt);
  5. Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  6. Lê Vương L2, sinh năm 1994 (vắng mặt);

    Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  7. Lê Văn T3, sinh năm 1995 (vắng mặt);

    Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 03/11/2023, Phan Du Ý đang ngồi nói chuyện với chị Thái Thị Bé N1 tại ấp T, xã T, thành phố H. Khi cả hai đang nói chuyện thì Nguyễn Xuân T đi ngang qua nhìn thấy nên đến nói chuyện qua lại với Du Ý và N1. Trong lúc nói chuyện dẫn đến việc Du Ý và Xuân T phát sinh cự cãi thách thức đòi đánh nhau nhưng được N1 can ngăn.

Sau đó, Phan Du Ý bỏ đi và điện thoại cho Tô Thanh T1, Lê Vương L2, L2 điện thoại cho Phan Du L nói Du Ý bị đánh nên cả 03 người đi đến đến nhà của Nguyễn Xuân T để nói chuyện, giải hòa nhưng khi đến nhà Xuân T thì giữa Xuân T và Du Ý tiếp tục phát sinh cự cãi dẫn đến việc Du Ý và Xuân T câu vật đánh nhau bằng tay; Tô Thanh T1, Phan Du L, Lê Vương L2 đứng ngoài xem. Nguyễn Xuân B1 đang ngủ dưới sàn nhà thấy Xuân T đang đánh nhau với Phan Du L, còn Tô Thanh T1 thì đứng kế bên đang có cử chỉ muốn đánh Xuân T nên cầm cây sắt (loại xà ben) chạy đến đánh trúng hông phải Tô Thanh T1 một cái làm Thanh Tùng té ngã xuống đất. Khi Xuân B1 vừa đánh Thanh T1 thì bị Du L cầm dao tự chế chém trúng vào tay trái 02 (hai) cái nên Xuân B1 chạy lên nhà, Du L quay sang dùng dao chém 01 cái trúng vào tay phải của Xuân T gây thương tích. Khi Tô Thanh T1, Phan Du Ý, Phan Du L và Lê Vương L2 vừa bỏ đi thì Xuân B1 cầm ly thủy tinh ném trúng vào đầu của Tô Thanh T1 gây thương tích.

Hậu quả: Nguyễn Xuân B1, Nguyễn Xuân T bị thương tích ở tay, được người thân đưa đến bệnh viện Đ1 sơ cấp cứu sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ tiếp tục điều trị đến ngày 06/11/2023 xuất viện; Tô Thanh T1 bị thương tích ở vùng đầu điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ, đến ngày 08/11/2023 xuất viện.

- Đến ngày 06/11/2023, Phan Du L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú về hành vi đã gây thương tích cho Nguyễn Xuân T, Nguyễn Xuân B1.

- Ngày 06/11/2023, Tô Thanh T1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Xuân B1.

- Ngày 08/11/2023, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Xuân B1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Phan Du L.

- Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: Nhiều mãnh vỡ thủy tinh, trong suốt; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Radmi, màu đen, có dán ốp lưng màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WaveS biển số 66H1-116.49, màu đỏ đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun tay ngắn có bâu cổ màu đen, hai tay áo có màu nâu, trước ngực áo có chữ DSQUARED 2, đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean dài, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Future biển số 66H1-500.15, màu trắng-đỏ- đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun sát nách màu xanh, trước ngực áo có chữ adidas, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần thun ngắn, màu xanh nhạt, trước quần có dòng chữ PAIDILI, màu vàng, đã qua sử dụng.

Riêng hung khí Phan Du L và Nguyễn Xuân B1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, Phan Du L và Nguyễn Xuân B1 đã ném bỏ. Lực lượng chức năng tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.

1. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 09/ KLTTCT-TTPYĐT, ngày 27/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận đối với Nguyễn Xuân B1:

“+ 03 (ba) vết thương phần mềm mặt trước trong 1/3 dưới cẳng tay trái, đốt gần đến đốt xa ngón IV bàn tay trái, mặt lòng đến ngón giữa đốt V bàn tay trái, kích thước trung bình. Mỗi vết: 02%.

+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Xuân B1 tại thời điểm giám định là 06%.

+ Kết luận khác: Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động gây ra; Chiều hướng hình thành tổn thương từ trên xuống dưới; Các tổn thương trên do vật sắc gây ra”

2. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số:10/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 27/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận đối với Nguyễn Xuân T:

“+ Sẹo vết thương phần mềm dọc mặt bàn tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%.

+ Mất ngón IV, V bàn tay phải kèm theo mất chỏm xương bàn IV, V bàn tay phải. Tỷ lệ tổn thương: 20%.

+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Xuân T tại thời điểm giám định là 22%.

+ Kết luận khác: Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động gây ra; Chiều hướng hình thành tổn thương từ trên xuống; Các tổn thương trên do vật sắc gây ra”.

3. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 22/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 27/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận đối với Tô Thanh T1:

+ Sẹo vết thương phần mềm thái dương trái đến phía trong tai trái, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương: 06%.

+ Sẹo vết thương phần mềm phía trước tai trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 03%.

+ Sẹo vết thương phần mềm cổ sau tai trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 02%.

+ Sẹo vết thương phần mềm mạn sườn phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương: 02%.

+ Sẹo vành tai trái không co rúm. Tỷ lệ tổn thương: 01%.

+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tô Thanh T1 tại thời điểm giám định là 13%.

+ Kết luận khác: Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động gây ra; Sẹo vết thương phần mềm mạn sườn phải có chiều hướng ngoài vào trong, từ phải sang trái; Các tổn thương còn lại có chiều hướng ngoài vào trong, từ trái sang phải; các tổn thương trên do vật tày gây ra.”

- Vật chứng thu giữ, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho Tô Thanh T1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WaveS biển số 66H1-116.49, màu đỏ đen, đã qua sử dụng. Đây là tài sản hợp pháp của Thanh T1 không liên quan đến hành vi phạm tội; T4 lại cho Phan Du Ý: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Radmi, màu đen, có dán ốp lưng màu xanh dương; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng. Đây là tài sản hợp pháp của Ý không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Xuân T yêu cầu Phan Du L bồi thường khắc phục thiệt hại về sức khỏe với tổng số tiền 200.000.000 đồng, gồm các khoảng tiền điều trị, nằm viện, ngày công lao động, tổn thất tinh thần; Nguyễn Xuân B1 yêu cầu Phan Du L bồi thường khắc phục thiệt hại về sức khỏe với tổng số tiền 56.511.000 đồng, gồm các khoảng tiền điều trị, nằm viện, ngày công lao động, tổn thất tinh thần; Bị hại Tô Thanh T1 yêu cầu Nguyễn Xuân B1 bồi thường khắc phục thiệt hại về sức khỏe với tổng số tiền 8.000.000 đồng (Nguyễn Xuân B1 đã khắc phục được 5.000.000 đồng).

Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKSTPHN, ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố các bị cáo Phan Du LNguyễn Xuân B1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của các bị cáo Phan Du LNguyễn Xuân B1 đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, trong đó bị cáo hành vi gây thương tích của Phan Du L có tính chất côn đồ. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phan Du LNguyễn Xuân B1 về tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Du L từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân B1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Đối với việc Phan Du Ý gọi điện cho Phan Du L, Tô Thanh T1 và Lê Minh V đến nhà Nguyễn Xuân T để giải quyết mâu thuẫn giữa Ý và Xuân T dẫn đến sự việc. Qua điều tra làm rõ, mục đích của Ý điện thoại cho L, Thanh T1, V đến để can ngăn, giải hòa, không có chủ đích gây thương tích cho Nguyễn Xuân T, Nguyễn Xuân B1. Việc Phan Du L gây thương tích cho B1 và Xuân T là ngoài ý muốn của Phan Du Ý do đó không xem xét xử lý Phan Du Ý với vai trò đồng phạm cùng Phan Du L nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với việc Tô Thanh T1 và Lê Minh V đi cùng Phan Du L đến nhà Nguyễn Xuân T để giải quyết mâu thuẫn giữa Ý và Xuân T. Qua điều tra làm rõ, mục đích của T và V đến để giải hòa, không có chủ đích gây thương tích cho Nguyễn Xuân T, Nguyễn Xuân B1. Việc Phan Du L gây thương tích cho B1 và Xuân T là ngoài ý muốn của T và V do đó không xem xét xử lý Thanh T1 và V với vai trò đồng phạm cùng Phan Du L nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với việc Phan Du Ý mâu thuẫn đánh nhau với Nguyễn Xuân T nhưng không gây thương tích do đó không xử lý hình sự đối với Ý và Cơ quan điều tra đã đề nghị xử lý hành chính đối với Phan Du Ý nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy nhiều mãnh vỡ thủy tinh, trong suốt; Trả lại cho Phan Du L: 01 (một) áo thun tay ngắn có bâu cổ màu đen, hai tay áo có màu nâu, trước ngực áo có chữ DSQUARED 2; 01 (một) quần Jean dài, màu xanh, đã qua sử dụng; Trả lại cho Nguyễn Xuân B1: 01 (một) quần thun ngắn, màu xanh nhạt, trước quần có dòng chữ PAIDILI, màu vàng; 01 (một) áo thun sát nách màu xanh, trước ngực áo có chữ adidas, màu trắng, đã qua sử dụng; Tiếp tục tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Future biển số 66H1-500.15, màu trắng-đỏ- đen, đã qua sử dụng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án đối với Phan Du L. Riêng hung khí Phan Du LNguyễn Xuân B1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, Phan Du LNguyễn Xuân B1 đã ném bỏ. Lực lượng chức năng tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Buộc bị cáo Phan Du L bồi thường thiệt hại sức khỏe cho Nguyễn Xuân T với số tiền là 80.871.947 đồng (trong đó gồm tiền điều trị, nằm viện có toa vé hợp lý là 5.871.947 đồng; ngày công lao động 60 ngày x 350.000 đồng/ngày là 21.000.000 đồng; tổn thất tinh thần 30 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/tháng = 54.000.000 đồng). Bồi thường thiệt hại sức khỏe cho Nguyễn Xuân B1 với số tiền là 54.375.056 đồng (trong đó gồm tiền điều trị, nằm viện có toa vé hợp lý là 6.375.056 đồng; ngày công lao động 60 ngày x 350.000 đồng/ngày là 21.000.000 đồng; tổn thất tinh thần 15 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/tháng =27.000.000 đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân B1 bồi thường thiệt hại sức khỏe tiếp cho Tô Thanh T1 với số tiền là 3.000.000 đồng gồm các khoảng tiền điều trị, nằm viện, ngày công lao động, tổn thất tinh thần như đã thỏa thuận.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Du LNguyễn Xuân B1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Phan Du L đồng ý bồi thường thiệt hại sức khỏe cho Nguyễn Xuân T số tiền 80.871.947 đồng và cho Nguyễn Xuân B1 số tiền 54.375.056 đồng như cáo trạng của Viện kiểm sát; bị cáo Nguyễn Xuân B1 đồng ý bồi thường thiệt hại sức khỏe tiếp cho Tô Thanh T1 số tiền là 3.000.000đồng; đối với hành vi gây thương tích của Phan Du L cho bị cáo thì yêu cầu xử lý hình sự theo quy định pháp luật và đồng ý nhận số tiền bồi thường thiệt hại sức khỏe mà bị cáo Phan Du L bồi thường là 54.375.056 đồng.

Bị hại Nguyễn Xuân T yêu cầu xử lý hành vi phạm tội của bị cáo Phan Du L3 theo quy định pháp luật và đồng ý nhận số tiền bồi thường thiệt hại sức khỏe mà bị cáo Phan Du L bồi thường là 80.871.947 đồng.

Bị hại Tô Thanh T1 yêu cầu xử lý hành vi phạm tội của Nguyễn Xuân B1 theo quy định pháp luật và đồng ý nhận số tiền bồi thường thiệt hại sức khỏe mà bị cáo Nguyễn Xuân B1 bồi thường tiếp là 3.000.000 đồng.

Các bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Du L3Nguyễn Xuân B1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Cụ thể: Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 03/11/2023, xuất phát từ mâu thuẩn cự cải nhau, các bên không kiềm chế được dẫn đến đánh nhau, trong đó Phan Du L với tính côn đồ đã dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào tay trái của Nguyễn Xuân B1 02 cái và chém vào tay phải của Nguyễn Xuân T 01 cái gây thương tích; Riêng đối với Nguyễn Xuân B1 đã dùng cây sắt (cây xà ben) và ly thủy tinh (cả 2 đều là hung khí nguy hiểm) đánh gây thương tích cho anh Tô Thanh T1.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 09/ KLTTCT-TTPYĐT, Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 10/KLTTCT-TTPYĐT và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 22/KLTTCT-TTPYĐT cùng ngày 27/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y thì hậu quả từ hành vi phạm tội Phan Du L thực hiện gây thương tích cho Nguyễn Xuân T với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 22% và Nguyễn Xuân B1 với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%. Nguyễn Xuân B1 gây thương tích cho Tô Thanh T1 với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%

Căn cứ lời khai nhận của các bị cáo, lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án

Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo Phan Du LNguyễn Xuân B1 đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, trong đó hành vi gây thương tích của Phan Du L có tính chất côn đồ đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Điều 134. Tội Cố ý gây thương tích

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm;

b) ...;

i) Có tính chất côn đồ...;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này...”

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Chỉ xuất phát từ việc các bên mâu thuẩn cự cãi nhau không hòa giải được mà các bị cáo đã dùng vũ lực để giải quyết mâu thuẩn. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện bản chất xem thường pháp luật nên phải xử lý nghiêm để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiền án, xuất phát từ mâu thuẩn nhỏ trong cuộc sống, các bị cáo không tìm cách giải quyết cho phù hợp mà lại sử dụng bạo lực để giải quyết dẫn đến hậu quả các bị cáo phải đi vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý nghiêm để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Phan Du L được hưởng 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là bị cáo thành khẩn khai bán hành vi phạm tội đã thực hiện, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú.

Bị cáo Nguyễn Xuân B1 được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện, đã khắc phục được một phần hậu quả do hành vi phạm tội do mình gây ra, bị cáo thuộc gia đình có công cách mạng (có ba ruột tham gia cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, bà nội là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, ông nội được tặng thường Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng).

- Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Cả 2 bị cáo đều không có.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho các bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như các bị cáo.

[6] Đối với việc Phan Du Ý gọi điện cho Phan Du L, Tô Thanh T1 và Lê Minh V đến nhà Nguyễn Xuân T để giải quyết mâu thuẫn giữa Ý và Xuân T dẫn đến sự việc. Qua điều tra làm rõ, mục đích của Ý điện thoại cho L, Thanh T1, V đến để can ngăn, giản hòa, không có chủ đích gây thương tích cho Nguyễn Xuân T, Nguyễn Xuân B1. Việc Phan Du L gây thương tích cho B1 và Xuân T là ngoài ý muốn của Phan Du Ý do đó không xem xét xử lý Phan Du Ý với vai trò đồng phạm cùng Phan Du L nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[7] Đối với việc Tô Thanh T1 và Lê Minh V đi cùng Phan Du L đến nhà Nguyễn Xuân T để giải quyết mâu thuẫn giữa Ý và Xuân T. Qua điều tra làm rõ, mục đích của T và V đến để giải hòa, không có chủ đích gây thương tích cho Nguyễn Xuân T, Nguyễn Xuân B1. Việc Phan Du L gây thương tích cho B1 và Xuân T là ngoài ý muốn của T và V do đó không xem xét xử lý Thanh T1 và V với vai trò đồng phạm cùng Phan Du L nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8] Đối với việc Phan Du Ý mâu thuẫn đánh nhau với Nguyễn Xuân T nhưng không gây thương tích do đó không xử lý hình sự đối với Ý và Cơ quan điều tra đã đề nghị xử lý hành chính đối với Phan Du Ý nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[9] Về vật chứng vụ án:

Đối với hung khí Phan Du LNguyễn Xuân B1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, Phan Du LNguyễn Xuân B1 đã ném bỏ. Lực lượng chức năng tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với 01 (một) áo thun tay ngắn có bâu cổ màu đen, hai tay áo có màu nâu, trước ngực áo có chữ DSQUARED 2; 01 (một) quần Jean dài, màu xanh, đã qua sử dụng, đây là những đồ vật không liên quan đến hành vi phạm tội và là tài sản của Phan Du L nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho Phan Du L là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) quần thun ngắn, màu xanh nhạt, trước quần có dòng chữ PAIDILI, màu vàng; 01 (một) áo thun sát nách màu xanh, trước ngực áo có chữ adidas, màu trắng, đã qua sử dụng, đây là những đồ vật không liên quan đến hành vi phạm tội và là tài sản của Nguyễn Xuân B1 nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho Nguyễn Xuân B1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Future biển số 66H1-500.15, màu trắng-đỏ- đen, đã qua sử dụng của Phan Du L, tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Theo quy định pháp luật phải trả lại cho bị cáo, nhưng hiện nay Phan Du L chưa thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với Phan Du L.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Xuân T yêu cầu bị cáo Phan Du L bồi thường thiệt hại sức khỏe với số tiền là 80.871.947 đồng (trong đó gồm tiền điều trị, nằm viện có toa vé hợp lý là 5.871.947 đồng; ngày công lao động 60 ngày x 350.000 đồng/ngày là 21.000.000 đồng; tổn thất tinh thần 30 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/tháng = 54.000.000 đồng); bị hại Nguyễn Xuân B1 (đồng thời là bị hại trong vụ án) yêu cầu bị cáo Phan Du L3 bồi thường thiệt hại sức khỏe với số tiền là 54.375.056 đồng (trong đó gồm tiền điều trị, nằm viện có toa vé hợp lý là 6.375.056 đồng; ngày công lao động 60 ngày x 350.000 đồng/ngày là 21.000.000 đồng; tổn thất tinh thần 15 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/tháng = 27.000.000 đồng). Bị cáo Phan Du L3 đồng ý bồi thường theo yêu cầu của Nguyễn Xuân TNguyễn Xuân B1, xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị hại Tô Thanh T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân B1 tiếp tục bồi thường thiệt hại sức khỏe tiếp cho với số tiền là 3.000.000 đồng gồm các khoảng tiền điều trị, nằm viện, ngày công lao động, tổn thất tinh thần, bị cáo Nguyễn Xuân B1 đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại Tô Thanh T1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[9] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phan Du L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phan Du L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù và trừ đi thời gian bị tạm giữ (từ ngày 06/11/2023 đến ngày 14/11/2023).

2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân B1 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự.

  • Buộc bị cáo Phan Du L bồi thường cho:
    • + Nguyễn Xuân T với số tiền là 80.871.947 đồng (tám mươi triệu tám trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm bốn mươi bảy đồng).
    • + Nguyễn Xuân B1 với số tiền là 54.375.056 đồng (năm mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn không trăm năm mươi sáu đồng).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Xuân B1 bồi thường tiếp cho bị hại Tô Thanh T1 với số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy nhiều mãnh vỡ thủy tinh, trong suốt.
  • - Trả lại cho bị cáo Phan Du L: 01 (một) áo thun tay ngắn có bâu cổ màu đen, hai tay áo có màu nâu, trước ngực áo có chữ DSQUARED 2; 01 (một) quần Jean dài, màu xanh, đã qua sử dụng;
  • - Trả lại cho Nguyễn Xuân B1: 01 (một) quần thun ngắn, màu xanh nhạt, trước quần có dòng chữ PAIDILI, màu vàng; 01 (một) áo thun sát nách màu xanh, trước ngực áo có chữ adidas, màu trắng, đã qua sử dụng.
  • - Giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự tiếp tục quản lý 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Future biển số 66H1-500.15, màu trắng-đỏ- đen, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2024).

5. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Du L phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 6.762.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 6.962.000 đồng (sáu triệu chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân B1 phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).

6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành án xong.

7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/5/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND. TX. Hồng Ngự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thống

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger