Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIO LINH

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày 31-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Thanh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Cổ Thế Chung.

- Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 17/5/2024, đối với bị cáo:

Bùi Minh T (Tên gọi khác: Không có); sinh ngày: 22/01/2004, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn N, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc Y; vợ, con: chưa có; Tiền án: không, Tiền sự: ngày 11/7/2023, bị Công an huyện G xử phạt hành chính 4.000.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng, chấp hành xong ngày 12/7/2023.

Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện G, sau đó chuyển đến Trại tạm giam Công an tỉnh Q từ ngày 13/10/2023 đến ngày 08/3/2024 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến ngày 03/5/2024. Bị cáo đang bị câm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: anh Võ Xuân T2, sinh năm: 1999; trú tại: Khu phố E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Lương Thị T3, sinh năm 1996; địa chỉ: Khu phố E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Anh Trần Đình P, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Anh Trần Đình H, sinh năm 2003; địa chỉ: thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

1

- Người làm chứng:

Anh Trần Văn T4, sinh năm 2006; địa chỉ: thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Anh Lê Văn T5, sinh năm 2003; địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Anh Trần Đình Đ, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Anh Hoàng Xuân V, sinh năm 2003; địa chỉ: Khu phố E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Anh Trần Đình H1, sinh năm 2006; địa chỉ: thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Anh Trần Ngọc Đ1, sinh năm 2005; địa chỉ: thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Anh Hoàng Xuân S, sinh năm 2002; địa chỉ: Khu phố D, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Anh Hoàng Xuân H2, sinh năm 1997; địa chỉ: Khu phố H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 08/8/2023, sau khi ăn uống tại khu phố G, thị trấn G, huyện G, nhóm thanh niên gồm Bùi Minh T; Trần Đình P (sinh năm 2001), Trần Đình H (sinh năm 2003, em ruột P), cùng trú tại thôn H, xã G, huyện G; Trần Văn T4 (sinh năm 2006, trú tại thôn P, xã G, huyện G); Lê Văn T5 (sinh năm 2003), Trần Đình Đ (sinh năm 2001), cùng trú tại thôn T, xã G, huyện G; Hoàng Xuân V (trú tại khu phố H, thị trấn G, huyện G) Trần Đình H1 (sinh năm 2006), Trần Ngọc Đ1 (sinh năm 2005), cùng trú tại thôn H, xã G, huyện G), rủ nhau đến quán cháo gà Tuấn N, địa chỉ tại khu phố E, thị trấn G, huyện G, do anh Võ Xuân T2 (sinh năm 1999, trú tại khu phố E, thị trấn G, huyện G) làm chủ mua gà và bia về ăn, uống tiếp.

P đi vào quán nói: “Bán cho em thùng bia với con gà” thì H ở ngoài nói với vào: “Anh có bán gà xoáy không?”. T2 tức giận nói: “Quán bán đồ ăn, đồ chín, không bán đồ cúng. Bây mua được thì mua, không thì thôi”. Nghe vậy P nói lại: “Anh bán được thì bán, không thì thôi làm chi mà khó chịu vậy, tụi em đi mua chứ có xin anh đâu”. T2 nói: “Không bán nữa, bọn bây về đi” rồi cả ba xảy ra cải vã.

P đi ra khỏi quán, vừa đi vừa chửi tục, anh T2 tức giận chạy vào quán lấy 01 cây rựa đuổi đánh HP ra phía bờ hồ sinh thái. Chị Lương Thị T3 (cùng bán quán với T2) và anh V (đi cùng nhóm với T) đến can ngăn nhưng không được. Thấy vậy, T vào quán lấy 01 mũ bảo hiểm đưa cho H, H vừa chạy vừa quay lại ném mũ bảo hiểm vào người anh T2 nhưng không trúng. Đuổi đánh H không được, anh T2 quay lại đuổi đánh, dùng rựa chém 02 nhát vào hông P gây xước da và đuổi theo

2

đến giữa đường B thì bị P dùng mũ bảo hiểm đang đội trên đầu ném ngược lại nhưng không trúng. Thấy P bị đánh, T đang đứng ở mép đường đi đến bãi đất trống của bờ hồ, nhổ 01 gậy gỗ dài khoảng 02m (dùng chống dây điện) đến đứng sau lưng, cách anh T2 1,4m, đánh 01 cái hướng từ trên xuống dưới, cùng lúc này anh T2 cầm rựa xoay người ra sau nên bị đánh trúng vào đầu làm gây choáng váng, ngã xuống đường, đầu gối trái va chạm với mặt đường, gậy gỗ bị gãy. T tiếp tục chạy đến dùng chân đánh vào người anh T2, dùng tay lấy cây rựa trên tay T2. Thấy vậy, H đi đến cùng T dùng chân đánh và dùng tay giằng co lấy cây rựa, chị T3 đến can ngăn thì bị H dùng mũ bảo hiểm ném trúng vào mắt trái gây bầm tím. P cũng chạy đến dùng chân đá vào hông, chân anh T2.

Anh Hoàng Xuân S (sinh năm 2002, trú tại khu phố D, thị trấn G, huyện G) đang ăn khuya tại quán chứng kiến vụ việc nên dùng điện thoại của anh T2 gọi cho anh Hoàng Xuân H2 (sinh năm 1997, trú tại khu phố H, thị trấn G, huyện G, bạn anh T2) thông báo việc anh T2 bị đánh. Một lúc sau, anh H2 đến yêu cầu mọi người không được đánh nhau nữa, đồng thời H, T giằng được cây rựa nên dừng lại, nhóm của P ra về. Các anh S, H2 chở chị T3, anh T2 đến Trung tâm Y tế huyện G sơ cứu vết thương. Sau đó, anh T2 được chuyển đến điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q.

Bản Kết luận giám định số 443-23/KLTTCT-GĐPY ngày 28/9/2023 của Trung tâm G (YK-PY) tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:

“1. Các kết quả chính: Chấn thương sọ não xuất huyết dưới nhện đỉnh trái, điều trị nội khoa ổn định 12%. Các tổn thương bầm tím, sưng nề vùng đỉnh trái, sống mũi, cổ sau bên trái và tay trái hiện đã lành không còn dấu vết 0%. Vết biến đổi sắc tố da gối trái không ảnh hưởng chức năng 0,5%.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Xuân T2 tại thời điểm giám định là 12%. Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Vật gây, cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương trên cơ thể nạn nhân vùng đỉnh trái, sống mũi, cổ sau bên trái và tay trái do vật tày tác động theo nhiều chiều hướng. Tổn thương xây xát da gối trái do tác động tương hỗ với vật tày có bề mặt nhám theo hướng trước sau vào gối”.

Bản Kết luận giám định số 444-23/KLTTCT-GĐPY ngày 28/9/2023 của Trung tâm giám định YK-PY tỉnh T kết luận:

“1. Các kết quả chính: Các tổn thương sưng nề bầm tím vùng mặt trái, mắt trái, cẳng tay trái đã lành không để lại dấu vết 0%. Tại hồ sơ bệnh án vào viện, nạn nhân có tình trạng nhìn mờ, không có tổn thương nhãn cầu, không điều trị gì về mắt và theo lời khai nạn nhân bị tật khúc xạ cận thị trước đó nên không đánh giá và xếp tỷ lệ thị lực.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của

3

Lương Thị T3 tại thời điểm giảm định là 0%. Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Vật gây, cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương bầm tím, sưng nề vùng mặt trái và căng tay trái do vật tày tác động theo hướng trước sau”.

Bản Kết luận giám định số 29/KLTTCT-TTPY ngày 14/3/2024 của Trung tâm Pháy y tỉnh Q kết luận:

“1. Các kết quả chính: Vùng mạn sườn trái có 01 vết sẹo hình vòng cung không liên tục, kích thước trung bình, bờ mép tương đối sắc, mềm di động, màu nâu sạm.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Đình P tại thời điểm giám định là 02%. Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Vết sẹo vùng mạn sườn trái phù hợp với vật sắc gây nên”.

Cáo trạng số 20/CT-VKS-GL ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố bị cáo Bùi Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Bùi Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giam từ 13/10/2023 đến 08/3/2024.

Về trách nhiệm dân sự: T, P, H đã tự nguyện bồi thường cho anh T2 30.000.000 đồng, H bồi thường cho chị T3 5.000.000 đồng bao gồm chi phí điều trị, tiền công lao động, tổn thất tinh thần và các chi phí khác theo yêu cầu của bị hại. Anh T6 bồi thường cho P 1.000.000 đồng. Ngoài ra các bên không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự tịch thu tiêu hủy 04 đoạn gậy gỗ có chiều dài lần lượt là 64cm, 18,3cm, 32cm, 30cm, đường kính 3,5cm, 3,5cm, 03 cm, 2,5cm; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu xanh trắng, phần nhựa vỏ mũ phía sau bị gãy vỡ, 01 phần xốp màu trắng bên trong mũ bảo hiểm bị nứt vỡ do chị T3 giao nộp.

Đối với cây rựa anh T6 sử dụng gây thương tích cho P, anh H2 khai nhận để tránh cho hai nhóm đánh nhau nên sau khi nhận được từ H đã ném về phía bờ hồ sinh thái. Cơ quan điều tra không truy tìm được nên không đề nghị xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm

4

sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung tố giác về tội phạm; biên bản, sơ đồ và bản ảnh xem xét hiện trường; kết quả thực nghiệm điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:

Bùi Minh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Ngày 08/8/2023, do mâu thuẩn cá nhân giữa Trần Đình P, Trần Đình H và anh Võ Xuân T2 dẫn đến các bên xảy ra đánh nhau. Nhìn thấy bạn mình bị đánh, T đã dùng gậy gỗ đánh vào đầu anh T2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”.

Bản cáo trạng số 20/CT-VKS-GL ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS với tình tiết định khung “ Dùng hung khí nguy hiểm” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án:

Tình tiết tăng năng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo, P, H và bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại dân sự tiền viện phí, tiền thuốc, tiền bồi dưỡng và tiền tổn thất về tinh thần, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự: Ngày 11/7/2023, bị Công an huyện G xử phạt hành chính 4.000.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong ngày 12/7/2023.

[4] Về hình phạt: Căn cứ vào tình chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu có 01 tiền sự, ngày 11/7/2023, bị Công

5

an huyện G xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng; căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo bị cáo không thuộc trường hợp được hưởng án treo. Vì vậy, cần chấp nhận ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong khoảng từ 12 tháng đến 15 tháng tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: T, P, H đã tự nguyện bồi thường cho anh T2 30.000.000 đồng, H bồi thường cho chị T3 5.000.000 đồng bao gồm chi phí điều trị, tiền công lao động, tổn thất tinh thần và các chi phí khác theo yêu cầu của bị hại. Anh T6 bồi thường cho P 1.000.000 đồng. Ngoài ra các bên không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[6] Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ 04 đoạn gậy gỗ có chiều dài lần lượt là 64cm, 18,3cm, 32cm, 30cm, đường kính 3,5cm, 3,5cm, 03 cm, 2,5cm; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu xanh trắng, phần nhựa vỏ mũ phía sau bị gãy vỡ, 01 phần xốp màu trắng bên trong mũ bảo hiểm bị nứt vỡ do chị T3 giao nộp là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với cây rựa anh T6 sử dụng gây thương tích cho P, anh H2 khai nhận để tránh cho hai nhóm đánh nhau nên sau khi nhận được từ H đã ném về phía bờ hồ sinh thái. Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không có kết quả nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về những nội dung khác liên quan trong vụ án:

Đối với anh T6 có hành vi dùng rựa chém vào hông P gây thương tích 02%, đây là hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, P đã tự nguyện làm đơn yêu cầu không khởi tố vụ án nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự. Tuy nhiên, hành vi trên đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định số 114/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự; an toàn xã hội nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đến Công an huyện G lập biên bản, ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53/QĐ-XPHC ngày 28/3/2024 xử phạt 5.000.000 đồng. Chấp hành xong ngày 12/4/2024, các bên không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của P, H dùng tay, chân đánh anh T6 sau khi bị hại ngã xuống đường nhằm mục đích lấy cây rựa từ tay anh T6, hành vi chấm dứt ngay sau khi lấy được rựa, đồng thời không gây thương tích cho bị hại. P, H không bàn bạc, xúi giục, giúp sức T dùng gậy gô đánh anh T6 gây nên thương tích 12% nên không phải là đồng phạm với bị cáo. Ngoài ra, H còn sử dụng mũ bảo hiểm đánh trúng chị T3 nhưng không gây thương tích nên hành vi của P, H không cấu thành

6

tội phạm. Tuy nhiên, các đối tượng có hành vi gây mất trật tự tại nơi công cộng nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đến C biên bản, ban hành các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54, 55/QĐ-XPHC ngày 28/3/2024 về hành vi gây mất trật tự công cộng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 114/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ xử phạt mỗi cá nhân 1.000.000 đồng. Đã chấp hành xong ngày 12/4/2024 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Trần Văn T4, Lê Văn T5, Hoàng Xuân V, Trần Đình Đ, Trần Ngọc Đ1, Trần Đình H1 không tham gia đánh nhau, không xúi giục, giúp sức cho bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Áp dụng biện pháp ngăn chặn: Do bị cáo bị xử phạt tù, vì vậy cần phải ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú mới đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Minh T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ 13/10/2023 đến 08/3/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 04 đoạn gậy gỗ có chiều dài lần lượt là 64cm, 18,3cm, 32cm, 30cm, đường kính 3,5cm, 3,5cm, 03 cm, 2,5cm; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu xanh trắng, phần nhựa vỏ mũ phía sau bị gãy vỡ, 01 phần xốp màu trắng bên trong mũ bảo hiểm bị nứt vỡ do chị T3 giao nộp.

    Vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/5/2024, giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh.

  3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” xử: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo những nội dung liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

7

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Gio Linh;
  • - Công an huyện Gio Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Gio Linh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị
  • - Lưu HSVA.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Tạ Thanh Tuấn

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Minh T cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger