|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/DS-ST Ngày 30-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Đôi
Bà Khúc Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết C - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2024/TLST-DS, ngày 14 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần L (tên gọi cũ là Ngân hàng Thương mại cổ phần B); địa chỉ: LPB T, số B T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Thanh T – Giám đốc Phòng G, ngân hàng TMCP B chi nhánh H1; địa chỉ: Số B P, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 16 tháng 4 năm 2024); có mặt.
- Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1984 và anh Phạm Thanh T1, sinh năm 1976; cùng địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; anh T1 có mặt, chị H vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Phạm Thị D, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
+ Anh Phạm Thanh T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt
+ Anh Phạm Thanh T2, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
+ Chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần L do người đại diện hợp pháp trình bày:
Trước đây nguyên đơn có tên gọi cũ là Ngân hàng Thương mại cổ phần B. Ngày 15/7/2024, đã được sửa đổi tên là Ngân hàng Thương mại cổ phần L (viết tắt là Ngân hàng L). Ngân hàng L đã cấp tín dụng cho anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H theo các Hợp đồng tín dụng sau:
- Hợp đồng tín dụng số HDTD70A2020155 ngày 09/12/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A2020155/01 ngày 11/12/2020; số tiền vay và giải ngân là 600.000.000₫ (sáu trăm triệu đồng); mục đích vay: Thanh toán tiền sửa chữa nhà; thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày 12/12/2020 đến hết ngày 11/12/2030; lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 9%/năm áp dụng trong 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân đầu tiên (được tính trên cơ sở một năm là 365 ngày), từ tháng thứ 13 áp dụng lãi suất thả nổi điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lịch trả nợ gốc, lãi vay: ngày 25 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 25 của tháng liền sau ngày giải ngân đầu tiên. Mỗi kỳ hạn trả nợ gốc, anh T1, chị H phải trả như sau: Từ kỳ 01 đến hết kỳ 120: trả gốc 5.000.000 đồng. Đối với kỳ hạn trả lãi: được trả vào ngày 25 của mỗi tháng. Anh T1, chị H đã nhận đủ số tiền 600.000.000 đồng vào ngày 11/12/2020.
- Hợp đồng tín dụng số HDTD70A202149 ngày 08/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A202149/01 ngày 13/4/2021; số tiền vay và giải ngân là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng); mục đích vay: Thanh toán tiền mua sắm đồ dùng gia đình; thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày 14/4/2021 đến hết ngày 13/4/2031; lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 10%/năm áp dụng trong 03 tháng đầu kể từ ngày giải ngân đầu tiên (được tính trên cơ sở một năm là 365 ngày), từ tháng thứ 04 áp dụng lãi suất thả nổi điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lịch trả nợ gốc, lãi vay: ngày 25 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 25 của tháng liền sau ngày giải ngân đầu tiên. Mỗi kỳ hạn trả nợ gốc, anh T1, chị H phải trả như sau: Từ kỳ 01 đến hết kỳ 119: trả gốc 833.000 đồng, kỳ thứ 120 trả gốc 873.000 đồng. Đối với kỳ hạn trả lãi: được trả vào ngày 25 của mỗi tháng. Anh T1, chị H đã nhận đủ số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 13/4/2021.
Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng vay là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 327, tờ bản đồ số 03, diện tích đất 459m², địa chỉ: P, Đ, K, Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 280023 ngày 13/12/2006 của Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp cho người sử dụng đất hộ ông Phạm Bá M và vợ là Nguyễn Thị T3. Ngày 03/7/2015 đã được đăng kí biến động để thừa kế cho bà Nguyễn Thị T3 làm tài sản riêng theo văn bản khai nhận di sản và nhường quyền hưởng di sản thừa kế số 25, Q01-TP/CC-SCT-HĐGD được UBND xã Đ chứng thực ngày 23/3/2015 và theo hồ sơ số 00371/ĐKBĐ/2015.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng, tính đến thời điểm ngày 30/9/2024 anh T1 và chị H đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng L như sau: Đối với Hợp đồng tín dụng số HDTD70A2020155 ngày 09/12/2020, nợ gốc đã trả 175.050.089 đồng, nợ lãi đã trả: 168.144.166 đồng. Đối với Hợp đồng tín dụng số HDTD70A202149 ngày 08/4/2021, nợ gốc đã trả 83.793.000 đồng, nợ lãi đã trả 27.525.780 đồng. Tuy nhiên, đến đầu năm 2023 anh T1 và chị H đã thường xuyên vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng L đã nhiều lần làm việc với khách hàng để đôn đốc nghĩa vụ trả nợ. Ngày 05/4/2023 và ngày 27/9/2023, Ngân hàng L đã ban hành các Thông báo nợ quá hạn, Thông báo thu hồi khoản nợ gửi đến anh T1, chị H về việc về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn. Đến nay, anh T1, chị H vẫn không thực hiện đầy đủ và đúng hạn các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, không thực hiện tất toán khoản vay theo thông báo.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và sơ đồ hiện trạng ngày 26/8/2024 đã xác định: Diện tích thể hiện trên Giấy CNQSD đất là 459m² nhưng diện tích khi ghép cạnh Giấy CNQSD đất là 422,4m², ngân hàng đồng ý xác định là do sai số trong phương pháp tính toán đo đạc. Tuy nhiên, diện tích hiện trạng sử dụng đất là 418,6m² nên ngân hàng đồng ý giải quyết theo hiện trạng sử dụng đất.
Nay Ngân hàng L đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
1. Buộc anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H phải liên đới trả cho Ngân hàng L số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là: 503.907.128đ (năm trăm linh ba triệu, chín trăm linh bảy nghìn, một trăm hai mươi tám đồng). Trong đó:
Hợp đồng tín dụng số HDTD70A2020155 ngày 09/12/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A2020155/01 ngày 11/12/2020: Số tiền nợ là 485.340.626 đồng, trong đó: Nợ gốc 424.949.911 đồng, nợ lãi trong hạn: 52.864.925 đồng, nợ lãi quá hạn 5.170.177 đồng, nợ lãi chậm trả 2.355.613 đồng.
Hợp đồng tín dụng số HDTD70A202149 ngày 08/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A202149/01 ngày 13/4/2021: Số tiền nợ là 18.566.502 đồng, trong đó: Nợ gốc 16.207.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 2.256.342 đồng, nợ lãi quá hạn 226 đồng, nợ lãi chậm trả 102.934 đồng.
Kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H còn phải liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ được ký kết giữa Ngân hàng L và anh Phạm Thanh T1, chị Trần Thị H đã nêu trên.
2. Trong trường hợp anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng L có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp theo hiện trạng để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo các Hợp đồng thế chấp.
Anh Phạm Thanh T1 là bị đơn, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Anh đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng. Thời gian năm 2020 khi anh và chị Trần Thị H là vợ chồng hợp pháp đã cùng ký các Hợp đồng với Ngân hàng Thương mại cổ phần B để vay tiền gồm: Hợp đồng tín dụng số HDTD70A2020155 ngày 09/12/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A2020155/01 ngày 11/12/2020; số tiền vay và giải ngân là 600.000.000 đồng. Hợp đồng tín dụng số HDTD70A202149 ngày 08/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A202149/01 ngày 13/4/2021; số tiền vay và giải ngân là 100.000.000 đồng. Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng vay, giữa Ngân hàng (bên nhận thế chấp), bà Nguyễn Thị T3 (bên thế chấp) và anh Phạm Thanh T1, chị Trần Thị H (bên vay) đã cùng thỏa thuận ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số HDTC70A2020155 ngày 09/12/2020 đối với Quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 327, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: P, Đ, K, Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 280023 ngày 13/12/2006 của Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp cho người sử dụng đất bà Nguyễn Thị T3 và ký Phụ lục sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số PL01-HĐTC70A2020155 ngày 08/4/2021. Chi tiết cụ thể về các hợp đồng thống nhất như đại diện Ngân hàng vừa trình bày. Anh T1, chị H đã nhận đủ số tiền 600.000.000 đồng vào ngày 11/12/2020; nhận đủ số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 13/4/2021. Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng, do gặp khó khăn về kinh tế nên anh T1 và chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc để đôn đốc nghĩa vụ trả nợ nhưng đến nay anh vẫn không thực hiện đầy đủ và đúng hạn các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Ngày 04/8/2023 anh T1 và chị H đã được Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy giải quyết ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 56/2023/QĐST-HNGD, khi đó anh chị không yêu cầu giải quyết về tài sản, công nợ chung. Năm 2023 bà T3 chết không để lại di chúc, các con đẻ của bà T3 là: Chị Phạm Thị D, anh Phạm Thanh T1, anh Phạm Thanh T2, ngoài ra bà T3 không có người con riêng, con nuôi nào khác. Chồng bà T3 là ông Phạm Bá M1 đã chết năm 2014, bố mẹ đẻ bà T3 đều đã chết. Hiện nay, trên đất thế chấp có ngôi nhà ở diện tích khoảng 90m² đang do anh quản lý sử dụng, ngôi nhà ở diện tích khoảng 50m² đang do vợ chồng anh Phạm Thanh T2 và chị Nguyễn Thị C1 quản lý, sử dụng.
Nay Ngân hàng L khởi kiện, anh đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là: 503.907.128đ (năm trăm linh ba triệu, chín trăm linh bảy nghìn, một trăm hai mươi tám đồng). Trong đó: Hợp đồng tín dụng số HDTD70A2020155 ngày 09/12/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A2020155/01 ngày 11/12/2020: Số tiền nợ là 485.340.626 đồng, bao gồm: Nợ gốc 424.949.911 đồng, nợ lãi trong hạn: 52.864.925 đồng, nợ lãi quá hạn 5.170.177 đồng, nợ lãi chậm trả 2.355.613 đồng. Hợp đồng tín dụng số HDTD70A202149 ngày 08/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A202149/01 ngày 13/4/2021: Số tiền nợ là 18.566.502 đồng, bao gồm: Nợ gốc 16.207.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 2.256.342 đồng, nợ lãi quá hạn 226 đồng, nợ lãi chậm trả 102.934 đồng. Kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H còn phải liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ được ký kết giữa các bên. Ngoài ra, anh xin Ngân hàng tạo điều kiện về thời gian trả nợ để anh thu xếp tiền tất toán khoản vay.
Trong trường hợp anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng L có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp theo hiện trạng là 418,6m² để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo các Hợp đồng thế chấp.
Bị đơn chị Trần Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị D: Đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị H, chị D đều không đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên họp và hòa giải, từ chối khai báo, vắng mặt không có lý do chính đáng. Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, chị H, chị D vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Thanh T2 và chị Nguyễn Thị C1 trình bày: Bà Nguyễn Thị T3 là chủ sử dụng thửa đất số 327, tờ bản đồ số 03 và sở hữu toàn bộ tài sản trên thửa đất; diện tích đất cấp trong giấy chứng nhận là 459m², địa chỉ: P, Đ, K, Hải Phòng; đã được Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 280023 ngày 13/12/2006
Năm 2020, bà T3 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản với Ngân hàng L để đảm bảo khoản vay của anh T1, chị H. Năm 2023 bà T3 chết không để lại di chúc, về quan hệ nhân thân của bà T3 thống nhất như lời trình bày của anh T1. Hiện nay, một phần tài sản trên đất thế chấp là ngôi nhà 02 tầng đang do vợ chồng anh Phạm Thanh T2 và chị Nguyễn Thị C1 quản lý, sử dụng. Tòa án xác định anh và chị là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, anh chị thống nhất quan điểm: Trường hợp anh T1, chị H không trả được nợ cho Ngân hàng thì đồng ý phát mại tài sản thế chấp theo hiện trạng là 418,6m².
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đầy đủ quy định tại Điều 70, 72, 73 của Bộ luật Tố Tụng dân sự. Tại phiên tòa, chị H là bị đơn vắng mặt, anh T2, chị D, chị C1 là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai; đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 116, 117, 274, 275, 280, 282, 288, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự; Các điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng L. Buộc anh Phạm Thanh T1
và chị Trần Thị H phải liên đới trả cho Ngân hàng L số tiền tính đến ngày
30/9/2024 là: 503.907.128đ (năm trăm linh ba triệu, chín trăm linh bảy nghìn, một
trăm hai mươi tám đồng). Trong đó:
- Hợp đồng tín dụng số HDTD70A2020155 ngày 09/12/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A2020155/01 ngày 11/12/2020: Số tiền nợ là 485.340.626 đồng, bao gồm: Nợ gốc 424.949.911 đồng, nợ lãi trong hạn: 52.864.925 đồng, nợ lãi quá hạn 5.170.177 đồng, nợ lãi chậm trả 2.355.613 đồng.
- Hợp đồng tín dụng số HDTD70A202149 ngày 08/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A202149/01 ngày 13/4/2021: Số tiền nợ là 18.566.502 đồng, bao gồm: Nợ gốc 16.207.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 2.256.342 đồng, nợ lãi quá hạn 226 đồng, nợ lãi chậm trả 102.934 đồng.
- Kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H còn phải liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ được ký kết giữa Ngân hàng L và anh Phạm Thanh T1, chị Trần Thị H đã nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trong trường hợp anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng L có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp theo hiện trạng để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo các Hợp đồng thế chấp.
- Về án phí: Anh T1 và chị H phải liên đới chịu 24.156.285 đồng án phí dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và công bố tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Giữa Ngân hàng L và anh T1, chị H có ký hợp đồng tín dụng vay tiền, mục đích vay là thanh toán tiền sửa chữa nhà ở và thanh toán tiền mua sắm đồ dùng gia đình. Nay Ngân hàng L yêu cầu anh T1, chị H thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết. Anh T1, chị H có nơi cư trú tại thôn P, xã Đ, huyện K; căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, chị H là bị đơn; anh T2, chị D, chị C1 là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[3] Về người tham gia tố tụng trong vụ án: Do bà Nguyễn Thị T3 là bên thế chấp đã chết năm 2023 nên hàng thừa kế thứ nhất của bà T3 là chị Phạm Thị D, anh Phạm Thanh T1, anh Phạm Thanh T2 được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trên phần đất thế chấp có ngôi nhà 02 tầng đang do vợ chồng anh Phạm Thanh T2 và chị Nguyễn Thị C1 quản lý, sử dụng, nên chị C1 được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ:
[4.1] Ngân hàng L và anh T1, chị H cùng thỏa thuận ký các Hợp đồng tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng số HDTD70A2020155 ngày 09/12/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A2020155/01 ngày 11/12/2020; số tiền vay và giải ngân là 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng); thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày 12/12/2020 đến hết ngày 11/12/2030; lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 9%/năm áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân, từ tháng thứ 13 áp dụng lãi suất thả nổi điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Hợp đồng tín dụng số HDTD70A202149 ngày 08/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A202149/01 ngày 13/4/2021; số tiền vay và giải ngân là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng); thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày 14/4/2021 đến hết ngày 13/4/2031; lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 10%/năm áp dụng trong 03 tháng đầu tiên, từ tháng thứ 04 áp dụng lãi suất thả nổi điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
[4.2] Xét thấy khi ký kết các Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ trên, các bên đều tự nguyện, không bị ép buộc; mục đích và nội dung của các hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập và buộc các bên phải thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng L đã thực hiện nghĩa vụ giao tiền cho anh T1, chị H vay đầy đủ theo đúng cam kết tại các Hợp đồng tín dụng. Mặc dù đã nhận tiền vay nhưng anh T1, chị H không thực hiện nghĩa vụ trả tiền khi đến kỳ hạn, do vậy khoản vay của anh chị bị quá hạn trả nợ kể từ ngày 04/4/2023 đến nay. Trong các Hợp đồng tín dụng đều quy định tại điểm f khoản 7.1 Điều 7 về Chấm dứt cho vay và thu hồi vốn vay trước hạn là: “Bên Vay không trả một phần hoặc toàn bộ gốc, lãi vay, phí theo các thỏa thuận tại Hợp đồng”. Như vậy, do quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng L khởi kiện là có căn cứ, phù hợp với các điều 90, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; các điều 116, 117, 463 Bộ luật Dân sự, cần chấp nhận. Mặc dù anh chị đã ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 56/2023/QĐST-HNGD ngày 04/8/2023, nhưng trong đó nội dung về tài sản chung, công nợ ghi nhận: “Không yêu cầu Tòa án giải quyết”. Nên xác định anh T1, chị H phải có nghĩa vụ liên đới đối với khoản nợ nêu trên là phù hợp với Điều 288 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Xét yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền nợ gốc và nợ lãi: Ngân hàng L cung cấp bản tự khai; bản kê lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả của khoản vay tính đến ngày 30/9/2024 để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn. Xét đây là khoản tiền các bên đã có thỏa thuận, lãi suất thỏa thuận phù hợp với Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; các điều 274, 275, 280, 282, 288, 357, 466 của Bộ luật Dân sự, nên việc Ngân hàng L yêu cầu anh T1, chị H trả nợ là có căn cứ chấp nhận. Như vậy, anh T1, chị H phải trả cho Ngân hàng L số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là: 503.907.128đ (năm trăm linh ba triệu, chín trăm linh bảy nghìn, một trăm hai mươi tám đồng). Trong đó: Hợp đồng tín dụng số HDTD70A2020155 ngày 09/12/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A2020155/01 ngày 11/12/2020: Số tiền nợ là 485.340.626 đồng, bao gồm: Nợ gốc 424.949.911 đồng, nợ lãi trong hạn: 52.864.925 đồng, nợ lãi quá hạn 5.170.177 đồng, nợ lãi chậm trả 2.355.613 đồng. Hợp đồng tín dụng số HDTD70A202149 ngày 08/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A202149/01 ngày 13/4/2021: Số tiền nợ là 18.566.502 đồng, bao gồm: Nợ gốc 16.207.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 2.256.342 đồng, nợ lãi quá hạn 226 đồng, nợ lãi chậm trả 102.934 đồng.
[6] Kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H còn phải liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ được ký kết giữa Ngân hàng L và anh Phạm Thanh T1, chị Trần Thị H đã nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[7] Xét yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp:
[7.1] Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng vay, Ngân hàng L (bên nhận thế chấp), bà Nguyễn Thị T3 (bên thế chấp) và anh Phạm Thanh T1, chị Trần Thị H (bên vay) đã cùng thỏa thuận ký Hợp đồng sau: (1) Hợp đồng thế chấp bất động sản số HDTC70A2020155 ngày 09/12/2020 đối với Quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 327, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: P, Đ, K, Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 280023 ngày 13/12/2006 của Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp cho người sử dụng đất hộ ông Phạm Bá M và vợ là Nguyễn Thị T3, diện tích đất trong giấy chứng nhận là 459m². Ngày 03/7/2015 đã được đăng kí biến động để thừa kế cho bà Nguyễn Thị T3 làm tài sản riêng theo văn bản khai nhận di sản và nhường quyền hưởng di sản thừa kế số 25, Q01-TP/CC-SCT-HĐGD được UBND xã Đ chứng thực ngày 23/3/2015 và theo hồ sơ số 00371/ĐKBĐ/2015. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng C2, thành phố Hải Phòng, số công chứng 15874/HĐTC/2020, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/12/2020. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ chi nhánh huyện K ngày 11/12/2020 đúng theo quy định pháp luật. (2) Phụ lục sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số PL01-HĐTC70A2020155 ngày 08/4/2021 đã được công chứng tại Văn phòng C2, thành phố Hải Phòng, số công chứng 5863/HĐTC/2021, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/4/2021. Nay Ngân hàng yêu cầu phát mại diện tích đất thế chấp theo hiện trạng là 418,6m² cần chấp nhậnd. Như vậy hợp đồng thế chấp và phụ lục hợp đồng thế chấp đều được các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự tự nguyện tham gia, ký kết, thể hiện ý chí của các bên; về hình thức và nội dung của các hợp đồng thế chấp đều đảm bảo đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật, đã được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đúng quy định của pháp luật.
[7.2] Như vậy, trong trường hợp anh T1, chị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng L có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp đã nêu trên để thu hồi nợ là phù hợp với các điều 317, 318, 319, 320, 323 của Bộ luật Dân sự. Trường hợp phát mại tài sản thế chấp nêu trên không đủ để trả nợ, thì anh T1, chị H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng L cho đến khi trả hết nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp phát mại tài sản thế chấp, nếu giá trị tài sản sau khi thanh toán cho Ngân hàng L thừa thì số tiền chênh lệch được trả cho hàng thừa kế thứ nhất của bà T3 là anh T1, anh T2, chị D.
[8] Về án phí: Anh T1, chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật là: 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 400.000.000 đồng (tức là 4% của 103.907.128 đồng) = 24.156.285 đồng. Như vậy, Anh T4, chị H phải liên đới chịu 24.156.285 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 116, 117, 274, 275, 280, 282, 288, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng L. Buộc anh Phạm Thanh T1
và chị Trần Thị H phải liên đới trả cho Ngân hàng L số tiền tính đến ngày
30/9/2024 là: 503.907.128đ (năm trăm linh ba triệu, chín trăm linh bảy nghìn, một
trăm hai mươi tám đồng). Trong đó:
- Hợp đồng tín dụng số HDTD70A2020155 ngày 09/12/2020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A2020155/01 ngày 11/12/2020: Số tiền nợ là 485.340.626 đồng, bao gồm: Nợ gốc 424.949.911 đồng, nợ lãi trong hạn: 52.864.925 đồng, nợ lãi quá hạn 5.170.177 đồng, nợ lãi chậm trả 2.355.613 đồng.
- Hợp đồng tín dụng số HDTD70A202149 ngày 08/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 70A202149/01 ngày 13/4/2021: Số tiền nợ là 18.566.502 đồng, bao gồm: Nợ gốc 16.207.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 2.256.342 đồng, nợ lãi quá hạn 226 đồng, nợ lãi chậm trả 102.934 đồng.
- Kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H còn phải liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ được ký kết giữa Ngân hàng L và anh Phạm Thanh T1, chị Trần Thị H đã nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trong trường hợp anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng L có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp theo hiện trạng để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số HDTC70A2020155 ngày 09/12/2020 đã ký giữa Ngân hàng L (bên nhận thế chấp), bà Nguyễn Thị T3 (bên thế chấp) và anh Phạm Thanh T1, chị Trần Thị H (bên vay). Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 327, tờ bản đồ số 03, diện tích đất hiện trạng 418,6m², địa chỉ: P, Đ, K, Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 280023 ngày 13/12/2006 của Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp cho người sử dụng đất hộ ông Phạm Bá M và vợ là Nguyễn Thị T3. Ngày 03/7/2015 đã được đăng kí biến động để thừa kế cho bà Nguyễn Thị T3 làm tài sản riêng theo văn bản khai nhận di sản và nhường quyền hưởng di sản thừa kế số 25, Q01- TP/CC-SCT-HĐGD được UBND xã Đ chứng thực ngày 23/3/2015 và theo hồ sơ số 00371/ĐKBĐ/2015 (có các mốc giới 1, 2, 3, 4, 4a, 6, 7, 7a, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 13a, 14, 14a, 15, 16, 17, 17a, 19, 1).
- Trường hợp phát mại tài sản thế chấp nêu trên không đủ để trả nợ, thì anh T1 và chị H phải tiếp tục liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng L cho đến khi trả hết nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp phát mại tài sản thế chấp, nếu giá trị tài sản sau khi thanh toán cho Ngân hàng L thừa thì số tiền chênh lệch được trả cho anh Phạm Thanh T1, anh Phạm Thanh T2, chị Phạm Thị D.
-
Về án phí: Anh Phạm Thanh T1 và chị Trần Thị H phải chịu chung
24.156.285đ (hai mươi bốn triệu, một trăm năm mươi sáu nghìn, hai trăm tám
mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại Ngân hàng L số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 11.275.000đ (mười một triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007932 ngày 14/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy.
-
Về quyền kháng cáo: Ngân hàng L, anh Phạm Thanh T1 có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Trần Thị H, chị Phạm Thị D, anh Phạm Thanh T2, chị Nguyễn Thị C1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Khúc Thị Minh Đặng Thị Đôi |
Phạm Thị Ngà |
Nơi nhận:
- - TANDTP Hải Phòng;
- - VKSND huyện Kiến Thụy;
- - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
- - Các đương sự;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 18/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP L và Trần Thị H
