Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠ HUOAI

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày 30-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tú
Bà Đỗ Hà Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Mộng Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST- HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/TLST- HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 04/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Vũ Đức T, sinh ngày 08/7/1988; tại tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; nơi cư trú: Tổ D, A, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn T1, sinh năm: 1961 và bà Phạm Thị Tuyết M, sinh năm: 1964; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

* Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1974; nơi cư trú: 3 N, xã L, Tp B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Ông Vũ Duy C, sinh năm 1980; nơi cư trú: 0 Đ, L, Tp B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt không có lý do).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

2

  1. Ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1998; nơi cư trú: 2 M, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt không có lý do)

    Đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Tấn H1: Ông Trương Tấn T2, sinh năm 1970; nơi cư trú: A Y, Phường A, Tp Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Văn bản uỷ quyền số 976 ngày 02/11/2023). (vắng mặt không có lý do)

  2. Công ty TNHH T5; địa chỉ: C - 0 E Đ, L, Tp B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh V – Giám đốc (vắng mặt)

    Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Minh V: Ông Nguyễn Phong P, sinh năm 1977; địa chỉ: D N, Phường L, Tp B, tỉnh Lâm Đồng – Chức vụ: Phó Giám đốc (Văn bản uỷ quyền ngày 29/12/2023). (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

  3. Ngân hàng thương mại cổ phần C2 – Chi nhánh B (V1); địa chỉ: Số A, đường B, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện theo uỷ quyền của V1 CN B: Ông Trần Văn C1 – Chức vụ: Giám đốc. (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

    Người được giao nhiệm vụ của ông Trần Văn C1: Bà Dương Thị Ngọc D, sinh năm 1977; địa chỉ: Số B L, Phường B, Tp B, tỉnh Lâm Đồng – chức vụ: Trưởng phòng Tổ chức Hành chính. SĐT: 0983.979.xxx.(văn bản số 58A/GNV – CNBLO ngày 15/01/2024) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/10/2023, Vũ Đức T điều khiển xe ô tô biển số 49H-011.37 từ thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đi huyện T, tỉnh Đồng Nai, khi đến đoạn đường Km98+300 (Đèo B), Quốc lộ B thuộc T, huyện Đ đã va chạm với xe ô tô BS: 49A-520.73 do tài xế Nguyễn Thanh H điều khiển đi cùng chiều phía trước, đẩy xe ô tô 49A-520.73 về phía trước va chạm vào phần đuôi sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99 của xe ô tô đầu kéo biển số 49C-074.50 do tài xế Vũ Duy C điều khiển đang chạy phía trước làm xe ô tô biển số 49A-520.73 bị văng ra phía bên phần đường bên phải theo hướng đi, lúc này xe ô tô do T điều khiển tiếp tục va chạm vào phần đuôi sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99. Hậu quả cả 03 phương tiện bị hư hỏng, ông Nguyễn Thanh H bị thương nhẹ.

- Kết quả kiểm tra nồng độ cồn đối với các tài xế Vũ Đức T, Vũ Duy C và Nguyễn Thanh H ngay sau khi xảy ra tai nạn, kết quả: 0.000 mg/L; Tiến hành xét nghiệm chất ma túy của 03 tài xế, kết quả: âm tính.

3

Sau khi vụ việc xảy ra, Trạm cảnh sát giao thông Mađaguôi thuộc Phòng PC08, Công an tỉnh L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm và ghi nhận các dấu vết để lại trên các phương tiện liên quan vụ tai nạn và thực hiện các biện pháp điều tra, xác minh sơ bộ ban đầu. Ngày 08/12/2023, Trạm Cảnh sát giao thông thuộc Phòng PC08 Công an tỉnh L đã chuyển nguồn tin và toàn bộ hồ sơ vụ việc cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để xử lý theo thẩm quyền.

* Kết luận giám định Kỹ thuật an toàn phương tiện số 01/KLGĐ-ĐK ngày 24/01/2024 của Trung tâm Đ đối với xe ô tô biển số 49H-074.50 của Sở Giao thông vận tải tỉnh L, kết luận:

+ Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu: Cụm đèn tín hiệu trước bể, cụm đèn tín hiệu sau còn nguyên tổng thành; Cụm đèn chiếu sáng trước bên phụ bể, cụm đèn bên tài xô lệch; Do ca bin biến dạng không vào được bên trong cabin nên không khởi động phương tiện. không kiểm tra được hoạt động của hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu (đèn xi nhan, đèn phan, đèn kích thước).

+ Hệ thống lái: Trụ lái gãy rời khỏi cơ cấu lái. Các ống dẫn dầu gãy. T3 dẫn động lái ngang cong. Các đầu rotuyn lái còn nguyên. Do không khởi động được động cơ, ống dầu trợ lực lái gãy dầu trợ lực lái chảy ra ngoài không thể kiểm tra sự làm việc hệ thống lái và trợ lực lái. Không có căn cứ kết luận hộ thống lái có đảm bảo an toàn kỹ thuật không.

+ Hệ thống phanh chính, phanh đỗ: Phanh chính là loại phanh chính khí nén – thủy lực: Các đường ống dẫn dầu thắng trước (ống cứng và ống mềm) đứt gãy; Các đường ống dẫn dầu thắng sau còn nguyên tổng thành không có dấu hiệu rò rỉ; Xy lanh phanh chính gãy rời; Các bầu con (heo con, xi lanh con) không có dấu hiệu rò rỉ; Bố phanh (má phanh) còn ở mức an toàn kỹ thuật và áp suất tang trống (tâm bua). Phanh đỗ là loại phanh cơ khí tác động lên hệ thống truyền lực, còn nguyên tổng thành không có dấu hiệu hư hỏng. Tại thời điểm kiểm tra do hệ thống phanh bị hư hỏng nặng không thể đánh giá an toàn kỹ thuật của hệ thống phanh.

Hiệu quả phanh của phương tiện phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hệ số bám của đường (đường khô hoặc đường ướt), vận tốc của xe, quãng đường phanh, cường độ phanh, tải trọng (khối lượng xe), thời gian phanh...nên căn cứ vào kết quả tại thời điểm kiểm tra không đủ điều kiện cơ sở để đánh giá hiệu quả phanh của phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn.

* Kết luận giám định về dấu vết cơ học của vụ tai nạn giao thông số 135/KL-KTHS ngày 08/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

- Dấu vết va chạm:

4

+ Dấu vết trượt mất sơn tại mặt ngoài nắp ca bô xe ô tô biển số 49A-520.73 phù hợp với dấu vết trượt tại cạnh dưới thanh cản phía sau xe ô tô đầu kéo biển số 49C-074.50 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99.

+ Dấu vết trượt bám dính chất màu vàng, mất sơn tại mặt ngoài nắp cốp sau xe ô tô biển số 49A-520.73 phù hợp với dấu vết trượt mất sơn, bám dính chất màu đen tại mặt trước ốp cản trước xe ô tô biển số 49H-011.37.

+ Dấu vết trượt mất sơn tại mặt ngoài nắp ca bô bên phải xe ô tô biển số 49H-011.37 phù hợp với dấu vết trượt mất sơn, bám dính chất màu vàng tại cạnh sau khung thùng xe bên trái xe ô tô đầu kéo biển số 49C-074.50 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99.

- Tốc độ: Không đủ cơ sở để kết luận tốc độ của xe ô tô biển số 49H-011.37; xe ô tô biển số 49A-520.73 và xe ô tô đầu kéo biển số 49C-074.50 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99 ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông,

- Chiều hướng lưu thông: Xe ô tô biển số 49H-011.37; xe ô tô biển số 49A-520.73 và xe ô tô đầu kéo biển số 49C-074.50 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99 lưu thông theo chiều từ thành phố B, tỉnh Lâm Đồng về hướng huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Vùng va chạm: Không đủ cơ sở để xác định vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô biển số 49H-011.37 với xe ô tô biển số 49A-520.73 vào thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông; Không đủ cơ sở để xác định vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô biển số 49A-011.37 với xe ô tô đầu kéo biển số 49C-074.50 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99 vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông; Vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô biển số 49H-011.37 với xe ô tô đầu kéo biển số 49C-074.50 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99 thuộc phần đường dành cho các phương tiện lưu thông theo chiều từ thành phố B, tỉnh Lâm Đồng về hướng huyện T, tỉnh Đồng Nai.

* Công tác định giá:

  • Kết luận định giá số 03/KL-HĐĐGTS ngày 07/03/2024 của Hội đồng định giá trong TTHS huyện Đ kết luận: Thiệt hại của xe ô tô biển số 49A-520.73 là 484.800.000₫ (Bốn trăm tám mươi bốn triệu tám trăm ngàn đồng).
  • Kết luận định giá số 02/KL-HĐĐGTS ngày 07/03/2024 của Hội đồng định giá trong TTHS huyện Đ kết luận: Thiệt hại của xe Sơ mi rơ móc biển số 77R-015.99 là 14.100.000đ (Mười bốn triệu một trăm ngàn đồng).
  • Kết luận định giá số 07/KL-HĐĐGTS ngày 07/03/2024 của Hội đồng định giá trong TTHS huyện Đ kết luận: Thiệt hại của xe ô tô biển số 49H-011.37 là 485.350.000đ (Bốn trăm tám mươi lăm triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng).

5

Tổng thiệt hại do xe ô tô BS 49H-011.37 gây ra đối với xe ô tô biển số 49A-520.73 và Sơ mi rơ móc biển số 77R-015.99 là: 498.900.000đồng (Bốn trăm chín mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng).

* Về vật chứng, Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý:

  • 01 (một) xe ô tô biển số 49H-011.37 bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 49H-011.37; Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Tấn T4 Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu.
  • 01 (một) xe ô tô con biển số 49A-520.73 bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 49A-520.73; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 49A-520.73 - đây là tài sản thuộc sở hữu của Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 – Chi nhánh B; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng D mang tên Nguyễn Thanh H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
  • 01 (một) xe ô tô đầu kéo biển số 49C-074.50 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 49C-074.50; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 49C-074.50; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99 - Đây là tài sản thuộc sở hữu của Công ty TNHH T5; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC mang tên Vũ Duy C. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
  • Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C mang tên Vũ Đức T (đính kèm hồ sơ vụ án).

* Về trách nhiệm dân sự: Đối với bị can Vũ Đức T khai nhận chưa có đủ tiền bồi thường nhưng chủ động liên hệ chủ xe ô tô biển số 49H-011.37 để bồi thường cho các bên. Quá trình điều tra, các bên liên quan đã tự giải quyết xong phần trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu gì thêm.

* Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông được xác định là do bị can Vũ Đức T đã không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi lưu thông trên đường có địa hình quanh co, đèo dốc, và khi xuống dốc, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy cùng chiều phía trước, là vi phạm quy định tại khoản 1 điều 9 Luật giao thông đường bộ, Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Tại Cơ quan điều tra, bị can Vũ Đức T đã nhận thức được hành vi vi phạm và thành khẩn khai báo, khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp lời khai của các tài xế Vũ Duy C và Nguyễn Thanh H vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.

6

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-ĐH ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Vũ Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự).

- Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo Vũ Đức T (T) thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Các bị hại bãi nại và không thắc mắc khiếu nại gì thêm đối với bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai – tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đức T từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới nên không đề nghị giải quyết.

Vật chứng vụ án: Đã xử lý xong trong quá trình điều tra, truy tố nên tại phiên toà không đề nghị gì thêm. Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C mang tên Vũ Đức T là của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đại diện viện kiểm sát không tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó xác định các Cơ quan tiến hành tố

7

tụng; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, tuy nhiên lời khai của những người này đã có trong hồ sơ vụ án việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo. Căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người có liên quan, kết luận giám định, cũng như phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào ngày 22/10/2023, Vũ Đức T điều khiển xe ô tô biển số 49H-011.37 từ thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đi huyện T, tỉnh Đồng Nai, khi đến đoạn đường Km98+300 (Đèo B), Quốc lộ B thuộc T, huyện Đ, là đoạn đường quanh co, đèo dốc nhưng do không làm chủ tốc độ, không đảm bảo an toàn khi xuống dốc, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy cùng chiều phía trước nên đã tông và đẩy xe ô tô BS: 49A-520.73 do tài xế Nguyễn Thanh H điều khiển đi cùng chiều phía trước, làm xe ô tô 49A-520.73 va chạm vào phần đuôi sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99 của xe ô tô đầu kéo biển số 49C-074.50 do tài xế Vũ Duy C điều khiển đang chạy phía trước; Sau đó xe ô tô biển số 49A-520.73 bị văng ra phần đường bên phải theo hướng đi, đồng thời xe ô tô do T điều khiển tiếp tục va chạm vào phần đuôi sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99. Hậu quả cả 03 phương tiện bị hư hỏng, ông Nguyễn Thanh H chỉ bị thương nhẹ. Tổng thiệt hại do xe ô tô BS 49H-011.37 gây ra đối với xe ô tô biển số 49A-520.73 và Sơ mi rơ móc biển số 77R-015.99 được Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự xác định là: 498.900.000đồng (Bốn trăm chín mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng).

Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông được xác định là do bị cáo đã không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi lưu thông trên đường có địa hình quanh co, đèo dốc, và khi xuống dốc, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy cùng chiều phía trước, là vi phạm quy định tại khoản 1 điều 9 Luật giao thông đường bộ, Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Vũ Đức T đã nhận thức được hành vi vi phạm và thành khẩn khai báo, khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp

8

lời khai của các tài xế Vũ Duy C và Nguyễn Thanh H vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự giao thông và an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo Vũ Đức T là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe theo quy định tuy nhiên khi điều khiển xe ô tô đã không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi lưu thông trên đường có địa hình quanh co, đèo dốc, và khi xuống dốc, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy cùng chiều phía trước, hậu quả làm 03 phương tiện bị hư hỏng được Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự xác định là: 498.900.000đồng (Bốn trăm chín mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng).

Do đó tại phiên tòa hôm nay cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như trong quá trình điều tra bị cáo đã đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Quá trình điều tra, các bên liên quan đã tự giải quyết xong phần trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu gì thêm, bị hại, người liên quan cũng có đơn xin bãi nại và xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những nhận định trên xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống cộng đồng mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự quản lý, giám sát của chính quyền địa phương nên chỉ cần xử phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tính răn đe và phòng ngừa chung, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bên đã tự thoả thuận và giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:

- 01 (một) xe ô tô biển số 49H-011.37 bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 49H-011.37; Quá trình điều tra

9

xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Tấn T4 Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là phù hợp nên Hội đồng xét xử không không xem xét lại.

- 01 (một) xe ô tô con biển số 49A-520.73 bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 49A-520.73; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 49A-520.73 - đây là tài sản thuộc sở hữu của Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 – Chi nhánh B; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng D mang tên Nguyễn Thanh H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử không không xem xét lại.

- 01 (một) xe ô tô đầu kéo biển số 49C-074.50 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 49C-074.50; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 49C-074.50; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe sơ mi rơ moóc biển số 77R-015.99 - Đây là tài sản thuộc sở hữu của Công ty TNHH T5; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC mang tên Vũ Duy C. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử không không xem xét lại.

- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C mang tên Vũ Đức T là của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.

[7] Về vấn đề khác: Đối với bị cáo Vũ Đức T khai nhận chưa có đủ tiền bồi thường nhưng chủ động liên hệ chủ xe ô tô biển số 49H-011.37 để bồi thường cho các bên. Quá trình điều tra, các bên liên quan đã tự giải quyết xong phần trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu gì thêm vì vậy HĐXX không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử, do vậy được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đức T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.

10

Giao bị cáo Vũ Đức T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả cho bị cáo Giấy phép lái xe hạng C mang tên Vũ Đức T sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Đức T phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa, thì thời hạn này tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - VKSND huyện Đạ Huoai (03);
  • - Công an huyện Đạ Huoai (01);
  • - Chi cục THADS huyện Đạ Huoai (01);
  • - Bộ phận THA hình sự (05);
  • - UBND xã Liên Hiệp, Đức Trọng, Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - bị hại (02);
  • - Người có QLNVLQ (03);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Án văn (03);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Đức T - Vi phạm quy định về thamg gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger