Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN ND HUYỆN SƠN ĐỘNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/DS - ST

Ngày 30/7/ 2024

“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Ngát;
  2. Ông Phạm Xuân Hùng;

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Đức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/DSST ngày 01 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXX – ST, ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Quốc A, sinh năm 1986; có mặt

Nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964; có mặt

Nơi hiện đang cư trú: Thôn L, xã T, huyện S, Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

[1] Theo đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn ông Bùi Quốc A trình bày:

Ngày 08/4/2016, ông có cho ông Nguyễn Văn H vay số tiền là 212.600.000đ, thời hạn trả là cứ 3 tháng trả nợ 01 lần với số tiền là 53.150.000đ (chia làm 4 quý); thời điểm tính từ ngày 09/7/2016 cho đến khi trả hết số tiền nợ; không có lãi suất. Đến ngày 08/07/2016, ông H đã trả được số tiền là 65.695.000đ; sau đó ông lại H lại vay nóng 9.820.000đ. Từ đó cho đến nay ông đã yêu cầu nhiều lần nhưng ông H không trả cho ông đồng nào nữa và đến nay còn nợ số tiền là 156.725.000đ.

Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết, buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho ông số tiền là 156.725.000đ theo quy định của pháp luật; về tiền lãi ông không có yêu cầu. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.

[2] Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày như sau:

Trong năm 2016, ông có nhận ứng tiền của ông Bùi Quốc A để làm ăn chung với một số người, sau khi không trả được nên ngày 08/4/2016 ông có ký nhận nợ số tiền 212.600.000đ, thời hạn trả là cứ 3 tháng trả nợ 01 lần với số tiền là 53.150.000đ (chia làm 4 quý); thời điểm tính từ ngày 09/7/2016 cho đến khi trả hết số tiền nợ; không có lãi suất. Ông đã trả cho ông A được 65.695.000đ sau đó lại vay thêm, 9.820.000đ nên đến nay ông còn nợ 156.725.000đ. Ông vay số tiền của anh Quốc A với mục đích góp vốn làm ăn với người khác, khi vay vợ, con ông không biết. Ông tự vay và tự có trách nhiệm trả nợ cho ông Quốc A.

Do hiện nay điều kiện kinh tế gia đình ông gặp khó khăn nên ông chưa có tiền trả ngay cho ông A theo như yêu cầu của ông A, ông nhất trí trả cho ông A số tiền trên nhưng phải trả dần thành nhiều lần. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

[3] Nhận xét của Viện kiểm sát đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến kết thúc phần tranh luận chuyển vào nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; 35; 144, 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Quốc A đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H.

Buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho ông Bùi Quốc A số tiền là: 156.725.000đ.

Về lãi suất chậm thi hành án: Thực hiện theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn H là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Bùi Quốc A khởi kiện ông Nguyễn Văn H tại Tòa án nhân dân huyện Sơn Động về việc ông H vay tiền không trả; ông H hiện đang cư trú tại huyện S, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Quốc A trình bày cho ông H vay tổng số tiền 02 lần là 222.420.000đ, không có lãi suất. Sau khi vay đến ngày 08/07/2016 ông H đã trả được số tiền là 65.695.000đ; Nay yêu cầu ông H trả số tiền còn nợ là 156.725.000đ. Nguyên đơn chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình đã giao nộp Giấy xác nhận thông tin cư trú; bản cam kết và phương án trả nợ ngày 08/4/2016.

Bị đơn ông H công nhận có vay số tiền 222.420.000đ của ông A, quá trình vay đã trả được số tiền gốc 65.695.000đ, nay còn nợ số tiền 156.725.000đ. Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.

Ngoài các tài liệu trên các đương sự đã cung cấp để chứng minh ở trên thì các bên đương sự không còn giao nộp tài liệu, chứng cứ nào khác.

Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì nghĩa vụ chứng minh: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”.

Căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự và tài liệu, chứng cứ các bên cung cấp, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong năm 2016, ông Bùi Quốc A có cho ông Nguyễn Văn H vay số tiền là 212.600.000đ theo giấy cam kết và phương án trả nợ ngày 08/4/2016, thời hạn trả là cứ 3 tháng trả nợ 01 lần với số tiền là 53.150.000đ (chia làm 4 quý); thời điểm tính từ ngày 09/7/2016 cho đến khi trả hết số tiền nợ; không có lãi suất.

Sau khi vay đến ngày 08/07/2016 ông H đã trả được số tiền cho ông A là 65.695.000đ, sau đó lại vay thêm và hiện nay còn nợ số tiền là 156.725.000đ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H thừa nhận còn nợ ông Bùi Quốc A số tiền trên nhưng chưa có tiền trả ngay cho ông A. Toàn bộ số tiền ông Quốc A cho ông H vay hai bên đều thừa nhận là tiền của cá nhân cho nhau vay không liên quan đến ai khác. Do đó, ông H phải có trách nhiệm trả cho ông Quốc A toàn bộ số tiền còn nợ là 156.725.000đ.

Về tiền lãi: Do ông Quốc A không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về lãi suất chậm thi hành án: Thực hiện theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bên bị đơn ông Nguyễn Văn H phải chịu toàn bộ tiền án phí DSST, nhưng ông H là người cao tuổi nên được miễn án phí DSST. Nguyên đơn ông Quốc A không phải chịu án phí DSST nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; 35; 144, 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Quốc A đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H.

Buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho ông Bùi Quốc A số tiền là: 156.725.000đ (Một trăm năm mươi sáu triệu, bảy trăm hai mươi năm nghìn đồng chẵn).

Về lãi suất chậm thi hành án dân sự: Thực hiện theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Về án phí: Ông Nguyễn Văn H thuộc diện được miễn tiền án phí DSST. Hoàn trả Công ty TNHH C (ông Bùi Quốc A – Giám đốc) số tiền 3.918.000.000đ đã nộp tạm ứng án phí DSST, biên lai số 0008568 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.

[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Sơn Động;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Động;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/DS - ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 18/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH A ứng tiền cho ông H để mua gỗ keo số tiền là 212.000.000đ, quá trình giao keo ông H đã giao hàng được 65.000.000đ; sau đó số tiền còn lại ông h không mua keo giao cho Công ty theo hợp đồng nên Công ty khởi kiện đòi lại tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger