Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN BẮC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST.

Ngày: 28-8-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Phước Trí.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Hiền, ông Đoàn Hữu Hoan

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nông Duy Mạnh –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 02/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/QĐXXST-HS ngày 14/8/2024, đối với bị cáo:

LÊ VĂN T2, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1995 tại Ninh Thuận

Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 5/12; Con Lê Văn P - sinh năm 1971 và bà Võ Thị Kim T - sinh năm 1974. Vợ: Đặng Thị Hồng P1 - sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/3/2020 bị Công an huyện N xử phạt hành chính 2.000.000₫ về hành vi khai thác khoáng sản trái phép.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chamaléa Thị S, sinh năm 1953 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại

Chamaléa Thị L, sinh năm 1969 (vắng mặt).

Chamaléa Xom, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Chamaléa C, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Chamaléa Chim, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Cùng trú tại: S, Xã C, Huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

2

Chị Chamaléa Thị L, anh Chamaléa X, anh Chamaléa C1 ủy quyền cho anh C2 Cây tham gia tố tụng (anh C vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện của bị hại:

Ông Đỗ Thanh L1 – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Công ty cổ phần T3

Địa chỉ: Tòa nhà A G Đ, phường B, quận B, TP ..

- Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Nam T1 – Tổng giám đốc.

- Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Tất H, sinh năm 1983 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn D, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam.

Người làm chứng:

Chamaléa Chim, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: thôn S, Xã C, Huyện T, tỉnh Ninh Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T2 - sinh năm 1995 trú tại thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận có giấy phép lái xe Hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 19/6/2023 là lái xe hợp đồng của Công ty cổ phần T3 (Công ty T3) thi công dự án đường C - V đoạn qua huyện T.

Vào lúc khoảng 09 giờ 00 ngày 18/02/2024, sau khi lấy đá mi từ Mỏ đá Thông Thuận lên đầy thùng xe ô tô thì Lê Văn T2 điều khiển xe ô tô tải biển số 50H-237.81 đi theo đường đất nối từ mỏ đá Thông Thuận ra Quốc lộ A để đi về lại công trình đường cao tốc. Trên đường đi, do đường hẹp nên T2 điều khiển xe ô tô chạy ở vị trí giữa đường với tốc độ khoảng 20km/giờ. Khi chạy được một đoạn đường cách Mỏ đá T khoảng 500m, từ xa (cách khoảng 100m), T2 nhìn thấy anh Chamaléa C1 - sinh năm 1994 và bà Chamaléa Thị S - sinh năm 1953 cùng trú tại thôn S, xã C, huyện T đang dắt bò đi bộ ngược chiều ở lề đường bên phải trên cùng phần đường với hướng đi của xe ô tô 50H-237.81. Anh C1 dắt 01 con bò cái lớn có cột dây thừng đi trước, phía sau khoảng 15m là bà S dắt 01 con bò cái lớn hơn có cột dây thừng đi ở phía sau cùng 01 con bò nhỏ không có cột dây. Khi chạy xe đi thêm một đoạn khoảng 50m thì T2 bấm 01 hồi còi để báo hiệu cho anh C1 và bà S dắt bò đi sát vào lề đường đồng thời T2 cho xe giảm tốc độ xuống còn khoảng 05km/giờ. Khi còn cách vị trí của anh C1 khoảng 20m thì T2 đánh lái xe qua trái lấn qua gần hết phần đường ngược chiều phía bên trái để cho xe ô tô chạy tới mà không dừng xe. Khi xe ô tô chạy ngang qua vị trí anh C1 đang dắt bò và chuẩn bị chạy vượt ngang qua vị trí của bà S thì con bò nhỏ đi theo con bò Bà S đang dắt đi bất ngờ quay đầu bỏ chạy đi về hướng ngược lại (cùng hướng với hướng đi của xe ô tô 50H-237.81) rồi con bò cái mà bà S đang cầm dây dắt đi cũng quay đầu bỏ chạy theo về hướng ngược lại. Khi con bò lớn quay đầu bỏ chạy đi về

3

phía sau thì đã kéo theo sợi dây mà bà S đang cầm trên tay làm bà S ngã xuống mặt đường ngay phía trước bên phải đầu xe ô tô 50H-237.81. Do xe ô tô 50H- 237.81 đang chạy đến nên bánh xe phía trước bên phải của xe ô tô 50H-237.81 đã cán lên người bà S. Thấy xe ô tô cán lên người bà S thì anh C1 la lên. Ngay lúc này, T2 nhìn qua gương chiếu hậu bên phải thì thấy bà S đang nằm ở trên mặt đường ở vị trí sát hông bên phải của xe ô tô do T2 điều khiển (vị trí bà S nằm ở khoảng giữa của hàng bánh thứ nhất và hàng bánh thứ hai phía bên phải). Lúc này, biết có tai nạn xảy ra nên T2 mới đạp thắng (phanh) cho xe ô tô dừng lại. Khi xuống xe, T2 nhìn thấy phần chân của bà S đang bị kẹt ở hàng bánh xe thứ 2 phía bên phải của xe ô tô 50H-237.81 nên T2 đã điều khiển cho xe lùi về phía sau để bánh xe không đè lên chân của bà S. Sau đó, bà S được đưa đi cấp cứu nhưng do bị thương nặng nên bà S đã chết tại bệnh viện.

- Tại Kết luận giám định tử thi số 27/KLGĐTT-TTGĐYK-PY ngày 26/02/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Chamaléa Thị S.

- Kết quả khám nghiệm: Đa tổn thương cơ thể, gãy xương chậu trái, gãy cổ xương đùi trái.

- Kết luận nguyên nhân chết: Nhận định nạn nhân chết do shock mất máu trụy tim mạch do chấn thương nặng vùng bụng, đùi trái.

- Tại Công văn số 130/PKTHT ngày 01/4/2024 của Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện T cung cấp thông tin như sau:

Tuyến đường xảy ra vụ tai nạn là đường giao thông nội đồng do UBND xã C quản lý.

- Do đây là đường giao thông nội đồng hiện hữu, phục vụ dân sinh nhà nước chưa đầu tư nên chưa xác định được tải trọng và vận tốc.

- Tại Kết luận giám định tình trạng An toàn kỹ thuật xe ô tô tải (tự đổ) biển số 50H-237.81 số 77/KLĐGTN-ĐK ngày 07/3/2024 của Trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới đường bộ tỉnh N kết luận các công đoạn đã được kiểm tra cụ thể như sau: Phương tiện xe ô tô tải (tự đổ) biển số 50H-237.81 không thõa mãn quy định về An toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường theo quy định hiện hành (tại thời điểm xe ô tô tải (tự đổ) biển số 50H-237.81 kiểm định thời gian từ 13h15 đến 14h21 ngày 28/02/2024).

- Kết quả đo nồng độ cồn trong khí thở của Lê Văn T2: 0,000miligam/1 lít khí thở.

- Qua kiểm tra ma túy nhanh trong nước tiểu của Lê Văn T2: Không tìm thấy ma túy.

- Tại Bản kết luận giám định số 1749/KL-KTHS ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh (C) kết luận: Tìm thấy thành phần Ethanol trong máu của nạn nhân Chamaléa Thi Súng, nồng độ E là 18,4968mg/100ml máu.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSTB ngày 31/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Lê Văn T2 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

4

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng, đề xuất mức hình phạt, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự. Đề nghị áp dụng a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T2 từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định. Về xử lý vật chứng: đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo cùng chủ xe ô tô 50H-237.81 đã thỏa thuận bồi thường theo yêu cầu của đại diện hợp pháp bị hại với tổng số tiền là 80.000.000 đồng (trong đó bị cáo T2 là 10.000.000 đồng). Các bên liên quan đã giao nhận đủ tiền và cam kết không thắc mắc khiếu nại, không yêu cầu bồi thường gì về sau.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Lê Văn T2 phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, các bản kết luận giám định Y khoa – Pháp y và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Văn T2 là người đã có giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp, còn thời hạn sử dụng.

Khoảng 9 giờ 00 ngày 18/02/2024, Lê Văn T2 điều khiển xe ô tô 50H-237.81 trên đường N. Khi phát hiện có bà Chamaléa Thị S đang dắt bò đi bộ ngược chiều ở lề đường bên phải (hướng cùng chiều di chuyển của xe ô tô 50H1 237.81) nhưng T2 đã không chủ động giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn mà lại điều khiển xe chạy sang phần đường bên trái nên khi con bò mà bà S đang dắt đột ngột bỏ chạy thì kéo theo bà S ngã xuống mặt đường ngay phía trước đầu xe ô tô 50H1-237.81 làm T2 không kịp xử lý tình huống đánh lái hay đạp phanh mà để bánh xe thứ nhất bên phải của xe ô tô 50H- 237.81 cán qua người bà S làm bà súng bị thương và chết tại bệnh viện. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc truy tố bị cáo T2 về tội “Vi

5

phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét thấy Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của Lê Văn T2 đã chủ quan để xe do mình điều khiển vượt qua bà Chamléa Thị S1 đang dắt bò đi ngược đường, trái chiều phía trước, để bánh xe thứ nhất bên phải của xe ô tô 50H- 237.81 cán qua người bà S1 làm bà súng bị thương và chết tại bệnh viện, bị cáo đã vi phạm vào khoản 1, khoản 7 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019; Khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 58 Luật giao thông đường bộ làm chết 01 người và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã trình diện làm việc, bị cáo và chủ xe tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại tổng số tiền 80.000.000đ (trong đó của bị cáo T2 là 10.000.000₫); trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra xác định bị hại cũng có một phần lỗi khi vi phạm quy tắc chung tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ dẫn đến vụ tại nạn nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Xét Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nhưng nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bị cáo có đủ các điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Nên không cần thiết phải cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.

[6] Đối với bị hại cũng có một phần lỗi khi vi phạm quy tắc chung tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

[7] Người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo T2. Về trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX xem xét theo đề nghị của Viện kiểm sát. Về trách nhiệm dân sự, giữa gia đình bị hại và bị cáo cùng chủ xe đã thỏa thuận bồi thường xong nên không có yêu cầu gì thêm.

[8] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần T3. Đối với hành vi đưa xe ô tô 50H-237.81 không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham

6

gia giao thông của Công ty T3: Qua điều tra xác định, Công ty T3 đã tiến hành đưa các phương tiện tham gia thi công dự án đường C - V và giao quyền quản lý, điều phối xe cho Đội xe của Công ty T3. Tuy nhiên, đối với các giấy tờ có liên quan đến các phương tiện thì Công ty T3 đã giao cho bộ phận Văn phòng của Công ty quản lý nên Đội xe hoàn toàn không biết việc xe ô tô 50H-237.81 đã hết hạn kiểm định An toàn kỹ thuật. Như vậy, việc đưa xe ô tô 50H-237.81 vào sử dụng để xảy ra tai nạn của Công ty T3 không đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự về tội “Đưa phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông” quy định tại Điều 262 Bộ luật Hình sự.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng chủ xe ô tô BKS 50H-237.81 và đại diện hợp pháp người bị hại đã thực hiện bồi thường xong nên không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra đã tạm giữ và trả lại 01 xe ô tô biển số 50H-237.81, nhãn hiệu CAMC, số loại HN3250H35C6M, màu sơn Ghi cho công ty T3.

- Tạm giữ và chuyển cho Đ - Trật tự Công an huyện T để đảm bảo cho việc xử phạt vi phạm hành chính 01 bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50227426 của xe ô tô biển số 50H-237.81 và 01 bản chính giấy chứng nhận đăng kiểm ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 2397176 của xe ô tô biển số 51D- 633.41

- Tạm giữ 01 bản chính giấy phép lái xe Hạng C tên Lê Văn T2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 19/6/2023, có giá trị đến ngày 19/6/2028 nên xem xét trả lại cho bị cáo.

[11] Tại phiên tòa, quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo T2, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về cho bị cáo được hưởng án treo, về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự, về án phí là có căn cứ, đúng pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.

[12] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Đối với phần trách nhiệm dân sự với số tiền 80.000.000đ, quá trình điều tra, bị cáo cùng chủ xe ô tô đã thỏa thuận bồi thường theo yêu cầu của đại diện hợp pháp bị hại đã thực hiện bồi thường xong nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền về phần yêu cầu này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

7

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T2 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T2 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/8/2024).

Giao Bị cáo Lê Văn T2 cho Ủy ban Nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Tuyên trả lại cho bị cáo Lê Văn T2 01 Giấy phép lái xe Hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp bị cáo ngày 19/6/2023.

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn T2 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, công khai, Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/8/2024). Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt; Người đại diện hợp pháp của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án (Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Bắc;
  • - Công an huyện Thuận Bắc;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Bắc;
  • - Thi hành án phạt tù;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Phước Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger