Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/DS-ST.

Ngày: 28/6/2024.

V/v tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Võ Hùng Em.
  2. Ông Nguyễn Văn Sĩ

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, cán bộ HùngToà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 28/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 321/2022/TLST- DS ngày 18 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2024/QÐST-DS ngày 13/6/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N.
  2. Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V. Chức vụ Tổng giám đốc Ngân hàng N.

Người đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng N: Ông Bùi Văn P. Chức vụ Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện T, Đồng Tháp (Theo Quyết định ủy quyền số: 2664/QĐ-NHN0-PC, ngày 01/12/2022).

Người đại diện theo ủy quyền ông Bùi Văn P: Ông Nguyễn Anh T. Chức vụ Phó Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện T, Đồng Tháp (Theo giấy ủy quyền ngày 23/12/2022), có mặt.

  1. Bị đơn: Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1976, vắng mặt.
  2. Địa chỉ: Số nhà A, khóm B, Phường B, Thành phố L, tỉnh An Giang.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Lê Thị L, sinh năm 1972, vắng mặt.
    2. Nguyễn Quốc H, sinh năm 1995, vắng mặt.
    3. Nguyễn Quốc K, sinh năm 2004, vắng mặt.

    Địa chỉ: Số nhà A, khóm B, Phường B, Thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/8/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn là Ngân hàng N (Ngân hàng), ông Nguyễn Anh T trình bày:

Ông T1, bà L, ông H và ông K có vay tại Ngân hàng số tiền 530.000.000₫ theo Hợp đồng tín dụng số: 12.1.6506LAV202006500, ngày 23/9/2020, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất là 11,5%/năm trên nợ gốc. Sau khi vay thì ông T1, bà L, ông H và ông K không trả nợ đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng. Cụ thể: Theo hợp đồng tín dụng nêu trên thì ngày 10/09/2021 bên vay phải trả một phần nợ gốc là 106.000.000đ và lãi phát sinh đến ngày 10/09/2021. Tuy nhiên do khó khăn về mặt tài chính nên Ngân hàng đã cho điều chỉnh kỳ hạn nợ đến ngày 10/03/2022 nhưng bên vay vẫn không trả được nợ theo thỏa thuận. Do đó toàn bộ số nợ vay đã quá hạn từ ngày 11/03/2022 đến nay.

Khi vay vốn ông T1, bà L, ông H và ông K đảm bảo bằng tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 12.511m² đất trồng lúa tại xã H do hộ Nguyễn Quốc T1 đứng tên, theo Hợp đồng thế chấp số 12112011.199 ngày 23/09/2020 giá trị thế chấp là 562.995.000đ và quyền sử dụng đất diện tích 3.938m² đất trồng lúa tại xã H do ông Nguyễn Quốc T1 đứng tên, theo Hợp đồng thế chấp số 12112011.198 ngày 23/09/2020 giá trị thế chấp là 177.210.000đ.

Nay Ngân hàng yêu cầu ông T1, bà L, ông H và ông K phải liên đới trả số nợ vay số tiền gốc 530.000.000₫ theo Hợp đồng tín dụng số 12.1.6506LAV202006500, ngày 23/9/2020 và tiền lãi phát sinh từ ngày 17/6/2021 đến ngày 28/6/2024 là 209.388.334đ. Tổng cộng gốc và lãi là 739.388.334đ và yêu cầu tiếp tục chịu lãi từ ngày 29/6/2024 của số tiền gốc chưa trả theo hợp đồng tín dụng nói trên cho đến khi trả hết số tiền gốc vay.

Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12112011.198 ngày 23/9/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12112011.199 ngày 23/9/2020 nay Ngân hàng rút lại không yêu cầu.

Bị đơn Nguyễn Quốc Thanh vắng m, không có văn bản trình bày.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị L, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Quốc K vắng mặt, không có văn bản trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý và giải quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ theo trình tự thủ tục quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; các Điều 288, 299, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng N đối với ông Nguyễn Quốc T1, bà Lê Thị L, ông Nguyễn Quốc H và ông Nguyễn Quốc K.

  1. Buộc ông Nguyễn Quốc T1, bà Lê Thị L, ông Nguyễn Quốc H và ông Nguyễn Quốc K có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vay gốc còn thiếu là 530.000.000đ (Năm trăm ba mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 17/6/2021 đến ngày 28/6/2024 là 209.388.334₫ (Hai trăm lẻ chín triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm ba mươi bốn đồng). Tổng cộng gốc và lãi là 739.388.334₫ (Bảy trăm ba mươi chín chín triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm ba mươi bốn đồng).

Ông Nguyễn Quốc T1, bà Lê Thị L, ông Nguyễn Quốc H và ông Nguyễn Quốc K phải tiếp tục liên đới chịu lãi của số tiền vay gốc theo mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số: 12.1.6506LAV202006500, ngày 23/9/2020 kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thi hành xong số nợ gốc cho Ngân hàng N.

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12112011.198 ngày 23/9/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12112011.199 ngày 23/9/2020.

Tại phiên toà, đương sự trình bày đã cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Hội đồng xét xử xét, khẳng định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác và cam kết lời khai hoàn toàn đúng sự thật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngân hàng nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” đối với ông T1, bà L, ông H và ông K. Xét thấy, người khởi kiện có quyền khởi kiện và đã thực hiện đúng về thủ tục khởi kiện theo quy định tại các Điều 186, 188, 189, 190 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ kiện tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh T2 thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết và Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tam Nông giải quyết. Ngoài ra, Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được thực tại huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn ông T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L, ông H và ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp.

[2] Về quan hệ pháp luật:

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng yêu cầu ông T1, bà L, ông H và ông K phải liên đới trả số tiền vay gốc còn thiếu Nay Ngân hàng yêu cầu ông T1, bà L, ông H và ông K phải liên đới trả số tiền gốc vay còn thiếu 530.000.000đ và tiền lãi đến ngày 28/6/2024 và yêu cầu tiếp tục chịu lãi từ ngày 29/6/2024 của số tiền gốc chưa trả theo hợp đồng tín dụng nói trên cho đến khi trả hết số tiền gốc vay nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp:

Xét thấy, Ngân hàng yêu cầu ông T1, bà L, ông H và ông K phải liên đới trả số tiền vay gốc 530.000.000₫ theo Hợp đồng tín dụng số 12.1.6506LAV202006500, ngày 23/9/2020 và tiền lãi phát sinh từ ngày 17/6/2021 đến ngày 28/6/2024 là 209.388.334đ. Tổng cộng gốc và lãi là 739.388.334đ và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 29/6/2024 theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả xong trả gốc cho Ngân hàng là hợp pháp là phù hợp nên chấp nhận. Cụ thể:

[3.1] Theo Hợp đồng tín dụng số: 12.1.6506LAV202006500, ngày 23/9/2020, số tiền vay là 530.000.000đ, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất là 11,5%/năm trên nợ gốc. Sau khi vay thì hộ ông T1, bà L, ông H và ông K không trả nợ đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng. Theo hợp đồng tín dụng nêu trên thì ngày 10/09/2021 bên vay phải trả một phần nợ gốc là 106.000.000đ và lãi phát sinh đến ngày 10/09/2021. Tuy nhiên do khó khăn về mặt tài chính nên Ngân hàng đã cho điều chỉnh kỳ hạn nợ đến ngày 10/03/2022 nhưng bên vay vẫn không trả được nợ theo thỏa thuận. Do đó toàn bộ số nợ vay đã quá hạn từ ngày 11/03/2022 đến nay. Hiện còn dư nợ gốc 530.000.000đ. Hợp đồng này bên vay là ông T1, bà L, ông H và ông K nhưng bà L, ông H và ông K cùng ủy quyền cho ông T1 ký tên bên vay (Theo giấy ủy quyền số 199, ngày 23/9/2020) và Ngân hàng là người ký bên cho vay phù hợp quy định của pháp luật. Sau khi vay ông T1, bà L, ông H và ông K không thực hiện đúng theo thỏa thuận đã ký kết tại hợp đồng tín dụng nêu trên, bên vay đã quá hạn, đã vi phạm hợp đồng về thời gian trả nợ. Tuy nhiên Ngân hàng đã cho điều chỉnh kỳ hạn nợ đến ngày 10/03/2022 nhưng bên vay vẫn không trả được nợ theo thỏa thuận. Do đó toàn bộ số nợ vay đã quá hạn từ ngày 11/03/2022 đến nay. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở ông T1, bà L, ông H và ông K cũng đã nhiều lần cam kết trả nợ nhưng không thực hiện đúng cam kết. Tính đến thời điểm xét xử ông ông T1, bà L, ông H và ông K còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 530.000.000đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 17/6/2021 đến 28/6/2024 là 209.388.334₫ nên buộc ông ông T1, bà L, ông H và ông K liên đới trả cho Ngân hàng là phù hợp.

[3.2] Đối Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12112011.198 ngày 23/9/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12112011.199 ngày 23/9/2020. Trong quá trình giải quyết Ngân hàng rút lại yêu cầu khởi kiện nên đình chỉ là phù hợp được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về chi phí tố tụng khác: Do Ngân hàng rút lại yêu cầu công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12112011.198 ngày 23/9/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12112011.199 ngày 23/9/2020 và chấm dứt hợp đồng đo đạc theo biên bản kết thúc hợp đồng ngày 25/6/2024 nên đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo “hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000019, ngày 26/6/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn D” số tiền là 7.300.000đ và chi phí hỗ trợ đo đạc cho công chức địa chính xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 16/6/2023 và 17/01/2024 số tiền 500.000đ nên buộc Ngân hàng phải chịu là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Chi phí đăng tin tại Chi nhánh Trung tâm Q tại Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 1.500.000đ và tại Công ty Cổ phần T3 số tiền 1.500.000đ và phí chuyển tiền 33.000đ, tổng cộng:

3.033.000đ. Do Ngân hàng có yêu cầu thông báo đăng tin nên Ngân hàng phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[6] Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng đối với ông T1, bà L, ông H và ông K là phù hợp.

[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:

[8.1] Ông T1, bà L, ông H và ông K phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận. Cụ thể số tiền 739.388.334 = [(400.000.000₫ tương đương số tiền 20.000.000₫) + 339.388.334 x 4% = 13.575.000₫]. Tổng cộng: 33.575.000đ.

[8.2] Ngân hàng không phải chịu tiền án phí, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 14.015.000đ theo biên lai thu số: 0012907, ngày 17/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Vì các lẻ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, khoản 4 Điều 157, khoản 2 Điều 180, điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 288, 299, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng N đối với ông Nguyễn Quốc T1, bà Lê Thị L, ông Nguyễn Quốc H và ông Nguyễn Quốc K.
    1. Buộc ông Nguyễn Quốc T1, bà Lê Thị L, ông Nguyễn Quốc H và ông Nguyễn Quốc K có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vay gốc còn thiếu là 530.000.000đ (Năm trăm ba mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 17/6/2021 đến ngày 28/6/2024 là 209.388.334₫ (Hai trăm lẻ chín triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm ba mươi bốn đồng). Tổng cộng gốc và lãi là 739.388.334₫ (Bảy trăm ba mươi chín chín triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm ba mươi bốn đồng).

Ông Nguyễn Quốc T1, bà Lê Thị L, ông Nguyễn Quốc H và ông Nguyễn Quốc K phải tiếp tục liên đới chịu lãi của số tiền vay gốc theo mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số: 12.1.6506LAV202006500, ngày 23/9/2020 kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thi hành xong số nợ gốc cho Ngân hàng N.

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12112011.198 ngày 23/9/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12112011.199 ngày 23/9/2020.
  1. Về chi phí tố tụng khác:
  2. Ngân hàng N phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo “hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000019, ngày 26/6/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn D” số tiền là 7.300.000đ (Bảy triệu, ba trăm nghìn đồng) và chi phí hỗ trợ đo đạc cho công chức địa chính xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 16/6/2023 và 17/01/2024 số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Tổng cộng: 7.800.000₫ (Bảy triệu, tám trăm nghìn đồng). Ngân hàng đã nộp xong.

  3. Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng:
  4. Ngân hàng N phải chịu chi phí đăng tin tại Chi nhánh Trung tâm Q tại Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 1.500.000đ và tại Công ty Cổ phần T3 số tiền 1.500.000₫ và phí chuyển tiền 33.000đ, tổng cộng: 3.033.000đ (ba triệu, ba mươi ba nghìn đồng).

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Nguyễn Quốc T1, bà Lê Thị L, ông Nguyễn Quốc H và ông Nguyễn Quốc K phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm số tiền 33.575.000đ (Ba mươi ba triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
    2. Ngân hàng N không phải chịu tiền án phí, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 14.015.000đ theo biên lai thu số: 0012907, ngày 17/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, người yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hùng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 18/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger