|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tòng Văn Máy.
Ông Lò Văn Khẹt.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn T, sinh ngày 13/7/2005, tại C, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T1, sinh năm 1985 và con bà Lường Thị B, sinh năm 1985; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T: Ông Lường Duy T2 - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Quàng Quốc C, sinh ngày 07/11/2005, tại C, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Nhạp, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn D, sinh năm 1985 và con bà Lường Thị B1, sinh năm 1985; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Quàng Quốc C: Ông Lường Ngọc C1. Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T6, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Quàng Văn Q, sinh ngày 15/12/2005, tại C, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn H, sinh năm 1981 và con bà Quàng Thị M, sinh năm 1983; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn Q: Ông Đỗ Văn T3. Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T6, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Quàng Văn T4, sinh ngày 08/11/1993, tại Í, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn P, sinh năm 1968 và con bà Lường Thị L, đã chết; có vợ là Quàng Thị H1 đã ly hôn, có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn T4: Ông Hoàng Trung T5. Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T6, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Quàng Văn D, sinh năm 1985. địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người làm chứng: Phan Xuân H2, địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lò Văn T, Quàng Quốc C, Quàng Văn Q và Quàng Văn T4 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 13 giờ 40 phút ngày 18/6/2024, tại tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Quàng Quốc C, sinh ngày 07/11/2005 ở bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Lò Văn T, sinh ngày 13/7/2005, ở bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La và Quàng Văn Q, sinh ngày 15/12/2005, địa chỉ: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ:
01 gói bọc bên ngoài bằng giấy ăn màu trắng, bên trong gói giấy màu nâu đất, bên trong có chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng trên mặt có ký hiệu WY. Do Quàng Văn Q ném ra ngoài ô thoáng cửa sổ và tự giác giao nộp khai là Methamphetamine do Lò Văn T bảo cất giấu. Lò Văn T khai số ma túy trên mua của Quàng Văn T4, sinh ngày 08/11/1993, ở bản C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La với số tiền 200.000, đồng.
Ngày 03/7/2024 Công an bắt tạm giam đối với Quàng Văn T4. Quàng Văn T4 khai nhận đã bán 02 viên hồng phiến cho Lò Văn T để lấy 200.000, đồng.
01 vỏ chai nhựa không có nắp hình trụ màu trong suốt, có dán nhãn Sting, có kích thước dài 21,2cm, chiều rộng đáy 5cm, chiều rộng cổ chai 2,7cm, thể tích chai 330mm, trên thân chai đục lỗ gắn ống nhựa trong suốt;
01 bật lửa ga màu đỏ, qua sử dụng;
01 chiếc cốc nhựa màu xanh, qua sử dụng;
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, qua sử dụng, thu của Quàng Văn Q;
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, qua sử dụng, thu của Quàng Quốc C;
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, qua sử dụng, thu của Lò Văn T;
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu trắng, qua sử dụng, thu của Quàng Văn T4;
01 chiếc xe máy nhãn hiệu LYBERTY, màu trắng, BKS 26B1-845.66, xe qua sử dụng, thu của Quàng Quốc C;
Ngày 18/6/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ:
01 gói bọc bên ngoài bằng giấy ăn màu trắng, bên trong gói giấy màu nâu đất, bên trong có chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng trên mặt có ký hiệu WY. có khối lượng 0,20 gam, lấy 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu QTC;
Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 1325/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
Mẫu ký hiệu QTC là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là 0,10 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lò Văn T, Quàng Quốc C, Quàng Văn Q và Quàng Văn T4. Những người bào chữa đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Lò Văn T, Quàng Quốc C, Quàng Văn Q và Quàng Văn T4 khai nhận:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 18/6/2024 Lò Văn T nhắn tin cho Quàng Quốc C và Quàng Văn Q có trao đổi rủ hai người sử dụng ma túy, hai người nhất trí. Sau đó Lò Văn T nhắn tin trao đổi mua ma túy với Quàng Văn T4, đến
13 giờ chiều cùng ngày Quàng Văn T4 mang 02 viên hồng phiến được gói trong giấy màu nâu đất đưa cho Lò Văn T và nhận của Lò Văn T 200.000, đồng. Sau khi có ma túy Lò Văn T nhắn tin cho Quàng Quốc C xuống đón về nhà trọ để sử dụng, Quàng Quốc C đi xe máy nhãn hiệu LYBERTY, màu trắng, BKS 26B1-845.66 đón Lò Văn T. Lò Văn T nhắn tin cho Quàng Văn Q đến. Do phòng trọ của Lò Văn T gần đường nên Lò Văn T bảo chuyển sang phòng bên trong (phòng trọ của Quàng Văn P1 đi vắng không khóa cửa). Lúc này Lò Văn T lấy ma túy ra để ở giường và bảo Quàng Quốc C làm ống hút. Quàng Quốc C đi làm bằng vỏ chai nhựa không có nắp hình trụ màu trong suốt, có dán nhãn Sting, đục lỗ gắn ống nhựa (vỏ bút bi) thành ống hút ma túy. Lúc này nghe thấy có tiếng động bên ngoài Lò Văn T bảo Quàng Văn Q cất giấu ma túy lên ô thoáng, thấy Công an vào Quàng Văn Q ném ra ngoài ô thoáng cửa sổ và tự giác giao nộp khai là Methamphetamine do Lò Văn T bảo cất giấu. Lò Văn T khai số ma túy trên mua của Quàng Văn T4, Công an phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng.
Về nguồn gốc số ma túy Quàng Văn T4 bán cho Lò Văn T. Ngày 18/6/2024 Quàng Văn T4 khai mua của Phan Xuân H2 sinh năm 2000, ở tiểu khu A,thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Hiện Phan Xuân H2 đang bị khởi tố bằng vụ án khác.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo: Lò Văn T và Quàng Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Lò Văn T và Quàng Quốc C đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Quàng Văn T4 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 138/CT-VKS-ML ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố:
Bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Quàng Quốc C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Quàng Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Quàng Văn T4 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lò Văn T từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 15; khoản 1, 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lò Văn T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”;
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Tuyên bố bị cáo Quàng Quốc C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 15; khoản 1, 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Quàng Quốc C từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Quàng Văn Q từ 18 đến 24 tháng tù.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Quàng Văn T4 từ 24 đến 30 tháng tù.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh giấy ăn màu trắng; 01 mảnh giấy màu nâu đất; 0,10 gam Methamphetamine (được niêm phong);
01 vỏ chai nhựa không có nắp hình trụ màu trong suốt, có dán nhãn Sting, có kích thước dài 21,2cm, chiều rộng đáy 5cm, chiều rộng cổ chai 2,7cm, thể tích chai 330mm, trên thân chai đục lỗ gắn ống nhựa trong suốt;
01 bật lửa ga màu đỏ, qua sử dụng; 01 chiếc cốc nhựa màu xanh, qua sử dụng (được niêm phong);
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước được xác định các bị cáo dùng liên lạc vào việc phạm tội mua bán, tổ chức sử dụng ma túy gồm:
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, qua sử dụng, thu của Quàng Văn Q;
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, qua sử dụng, thu của Quàng Quốc C;
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, qua sử dụng, thu của Lò Văn T.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu trắng, qua sử dụng, thu của Quàng Văn T4.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Quàng Văn D, sinh năm 1985, địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LYBERTY, màu trắng, BKS 26B1-845.66, xe qua sử dụng, thu giữ do Quàng Quốc C sử dụng. Được xác định chiếc xe máy là của ông Quàng Văn D, ông không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Quàng Quốc C.
Buộc Quàng Văn T4 phải nộp truy thu sung nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000, đồng do mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo, những người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Những người bào chữa cho các bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Lò Văn T và Quàng Văn Q:
Lò Văn T, Quàng Văn Q thừa nhận: Ngày 18/6/2024, tại phòng trọ ở tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Lò Văn T đã thực hiện hành vi mua và cất giấu trái phép 01 gói Methamphetamine có khối lượng là 0,20 gam và bảo Quàng Văn Q cất giấu lên ô thoáng.
Xét hành vi cất giữ ma túy của Lò Văn T và Quàng Văn Q đã được đối chất và làm rõ tại phiên tòa: Khi trao đổi cất ma túy, Lò Văn T chỉ giao cho Quàng Văn Q.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Lò Văn T và Quàng Văn Q đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[2.1]. Xét về vai trò đồng phạm trong tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”: Bị cáo Lò Văn T là người chủ mưu, chủ động mua ma túy và sai bị cáo Quàng Văn Q cất giấu, nên bị cáo Quàng Văn Q tham gia với vai trò giúp sức. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.
[3]. Xét hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Lò Văn T và Quàng Quốc C:
Lò Văn T và Quàng Quốc C thừa nhận: Ngày 18/6/2024, tại phòng trọ ở tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Lò Văn T cung cấp ma túy 01 gói Methamphetamine có khối lượng là 0,20 gam. Chuẩn bị địa điểm (phòng trọ). Phân công Quàng Quốc C làm ống hút ma túy. Quàng Quốc C đi làm bằng vỏ chai nhựa không có nắp hình trụ màu trong suốt, có dán nhãn Sting, đục lỗ gắn ống nhựa (vỏ bút bi) thành ống hút ma túy. Nhằm mục đích đưa ma túy vào cơ thể của Lò Văn T, Quàng Quốc C và Quàng Văn Q.
Xét thấy: Hành vi hành vi cung cấp ma túy, địa điểm của Lò Văn T và hành vi làm ống hút ma túy (chuẩn bị công cụ) của Quàng Quốc C. Nhằm mục đích đưa ma túy vào cơ thể của Lò Văn T, Quàng Quốc C và Quàng Văn Q, đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn T và Quàng Quốc C đã thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3.1]. Xét về phạm tội chưa đạt: Bị cáo Lò Văn T và Quàng Quốc C đã thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Nhưng chưa đưa được chất ma túy vào cơ thể của người sử dụng, không thực hiện được đến cùng vì nguyên nhân ngoài ý muốn. Lò Văn T đã cung cấp ma túy 0,20 gam
Methamphetamine, đã cung cấp địa điểm (phòng trọ). Đã phân công Quàng Quốc C đã thực hiện làm công cụ sử dụng ma túy xong. Nhưng bị Công an phát hiện bắt quả tang, nên không đưa ma túy vào cơ thể của nhau. Căn cứ Điều 15; khoản 1, 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.
[3.2]. Xét về vai trò đồng phạm trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: Bị cáo Lò Văn T là chủ mưu cấp ma túy, địa điểm và phân công bị cáo Quàng Quốc C làm công cụ sử dụng ma túy, nên bị cáo Quàng Quốc C tham gia với vai trò giúp sức. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.
[4]. Xét hành vi phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Quàng Văn T4:
Lò Văn T và Quàng Văn T4 thừa nhận: Ngày 18/6/2024, tại khu vực quán K1 ở tiểu khu E, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Quàng Văn T4 bán cho Lò Văn T 02 viên Methamphetamine có khối lượng 0,20 gam được gói trong mảnh giấy màu nâu đất, với giá 200.000, đồng. Số tiền này Quàng Văn T4 đã chi tiêu hết.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Quàng Văn T4 tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của người mua ma túy.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Quàng Văn T4 đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[5.1]. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo Lò Văn T và Quàng Quốc C phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo. Quàng Văn Q và Quàng Văn T4 phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt tương xứng nhằm giáo dục các bị cáo.
[5.2]. Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân không tốt, đều là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.
[5.3]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lò Văn T khai ra hành vi phạm tội của Quàng Văn T4. Quàng Văn T4 khai ra hành vi phạm tội của Phan Xuân H2 (được khởi tố bằng vụ án khác), là đã tích cực hợp tác phát hiện tội
phạm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6]. Do bị cáo Lò Văn T phạm hai tội cần căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
[8]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8.1]. Tịch thu tiêu huỷ:
01 mảnh giấy ăn màu trắng; 01 mảnh giấy màu nâu đất; 0,10 gam Methamphetamine (được niêm phong);
01 vỏ chai nhựa không có nắp hình trụ màu trong suốt, có dán nhãn Sting, có kích thước dài 21,2cm, chiều rộng đáy 5cm, chiều rộng cổ chai 2,7cm, thể tích chai 330mm, trên thân chai đục lỗ gắn ống nhựa trong suốt; 01 bật lửa ga màu đỏ, qua sử dụng; 01 chiếc cốc nhựa màu xanh, qua sử dụng (được niêm phong);
[8.2]. Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước được xác định các bị cáo dùng liên lạc vào việc phạm tội mua bán, tổ chức sử dụng ma túy gồm:
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, qua sử dụng, thu của Quàng Văn Q;
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, qua sử dụng, thu của Quàng Quốc C;
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, qua sử dụng, thu của Lò Văn T.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu trắng, qua sử dụng, thu của Quàng Văn T4.
[8.3]. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Quàng Văn D, sinh năm 1985, địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LYBERTY, màu trắng, BKS 26B1-845.66, xe qua sử dụng, thu giữ do Quàng Quốc C sử dụng. Được xác định chiếc xe máy là của ông Quàng Văn D, ông không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Quàng Quốc C.
[8.4]. Buộc Quàng Văn T4 phải nộp truy thu sung nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000, đồng mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.
[9]. Xét các vấn đề liên quan khác trong vụ án:
Về nguồn gốc số ma túy Quàng Văn T4 bán cho Lò Văn T. Ngày 18/6/2024 Quàng Văn T4 khai mua của Phan Xuân H2 sinh năm 2000, ở tiểu khu A, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Phan Xuân H2 đang bị khởi tố bằng vụ án khác. Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Do các bị cáo có đơn và tài liệu các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do đó được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 22 (hai mươi hai) tháng tù.
-
Căn cứ điểm b “Đối với 02 người trở lên” khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 15; khoản 1, 3 Điều 57; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội. Buộc Lò Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
-
Căn cứ điểm b “Đối với 02 người trở lên” khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; khoản 1, 3 Điều 57; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Quàng Quốc C phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Quàng Quốc C 04 (bốn) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T4 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Quàng Văn T4 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 03/7/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ:
01 mảnh giấy ăn màu trắng; 01 mảnh giấy màu nâu đất; 0,10 (không phẩy một không) gam Methamphetamine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 18/6/2024);
01 vỏ chai nhựa không có nắp hình trụ màu trong suốt, có dán nhãn Sting, có kích thước dài 21,2cm, chiều rộng đáy 5cm, chiều rộng cổ chai 2,7cm, thể tích chai 330mm, trên thân chai đục lỗ gắn ống nhựa trong suốt;
01 bật lửa ga màu đỏ, có kích thước dài 1x2x8cm, trên thân bật lửa có dòng chữ: Bật lửa an toàn thống nhất...khởi nguồn may mắn, qua sử dụng;
01 chiếc cốc nhựa màu xanh có quai, có kích thước đường kính đáy 6cm, kích thước miệng cốc 7cm, chiều cao 8,2cm, qua sử dụng ( đều được niêm phong theo biên bản ngày 18/6/2024).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước:
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, trên bề mặt có nhiều vết xước, số I 35 111927 4694755 1, không có sim, qua sử dụng, thu của Quàng Văn Q (Niêm phong theo biên bản kiểm tra thông tin điện thoại ngày 10/7/2024);
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, trên viền điện thoại có nhiều vết xước, mặt lưng phía trên bên phải bị vỡ, số Imel 6329072116755 1, không có sim, qua sử dụng, thu của Quàng Quốc C (niêm phong theo biên bản kiểm tra thông tin điện thoại ngày 10/7/2024);
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, số Imel 35 542907 232055 1, không có sim, qua sử dụng, thu của Lò Văn T (niêm phong theo biên bản kiểm tra thông tin điện thoại ngày 10/7/2024).
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu trắng, trên bề mặt viền có nhiều vết xước, mặt lưng kính bị vỡ, số Imel 35 309910 470667 1, có sim Viettel số 0975.587.xxx, qua sử dụng, thu của Quàng Văn T4 (niêm phong theo biên bản kiểm tra thông tin điện thoại ngày 03/7/2024).
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Quàng Văn D: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu PIAGO LYBERTY, màu trắng, BKS 26B1-845.66, số khung RP8M73100CV111717, số máy M731M4046171, xe qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
-
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Buộc Quàng Văn T4 phải nộp truy thu sung nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) do mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.
Các bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/11/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) (đã ký) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về hình sự về các tội: tàng trữ trái phép chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về các tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Lò Văn Thạch và đồng phạm, phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
