|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI Bản án số: 18/2024/HSST Ngày 27 tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân
1. Ông Dương Quý Sáng
2. Ông Nguyễn Văn Mạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/HSST ngày 13/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 17 tháng 6 năm 1993 tại: xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn N, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Tiến N, con bà: Trần Thị S; Vợ: Nguyễn Thanh N1; bị cáo có 01 con, sinh năm 2021; tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự: Không
Bị cáo Lê Văn T hiện đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/6/2024. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Lê Công T1; sinh năm 1991; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: tự do; địa chỉ
Địa chỉ: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Trọng Q; sinh năm: 1996; nghề nghiệp: Cán bộ.
Địa chỉ: Tổ E, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa
Công ty cổ phần V
Địa chỉ: Số D, lô E, đường T, khu đô thị X, phường X, quận N, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật Ông Thâm Văn K- Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quốc T2- Giám đốc điều hành văn phòng Đ thuộc Công ty cổ phần V
1
Địa chỉ: Tổ C, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 26/4/2024, Lê Văn T, điều khiển xe ô tô tải BKS: 29H 80127 lưu thông trên đường C- Lào Cai từ thành phố L về Hà Nội trả hàng. Đi đến gần km 216+724 thuộc địa phận xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai. T điều xe ô tô đi vào làn đường khẩn cấp do không quan sát lên đã đâm vào xe ô tô Honda cvic BKS 24A 23552 do ông Lê Công T1 mượn của anh Ngô Quý T3, trú tại tổ G, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai, Lê Công T1 điều khiển xe đi từ xã B, huyện B theo đường C - Lào Cai lên thành phố L, tỉnh Lào Cai vào sáng ngày 26/4/2024. Khi đi đến Km 217 anh T1 thấy xe gặp sự cố, áp xuất lốp của xe có tín hiệu cảnh báo nên anh T1 đã điều khiển xe quay đầu trên cao tốc ở đoạn đường không có giải phân cách cứng để điều khiển xe quay về xã B. Khi đi đến Km 216+724 anh T1 điều khiển xe rẽ ở làn dừng xe khẩn cấp rồi bật tín hiệu cảnh báo để kiểm tra lốp xe). Vụ va chạm làm chiếc xe ô tô Honda cvic BKS 24A 23552 hư hỏng thiệt hại là 280.130.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).
Kết luận định giá số: 07/KLĐGTS ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện B kết luận: Giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô Honda cvic BKS 24A 23552 là 280.130.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) Giá trị thiệt hai của chiếc xe ô tô tải BKS: 29H 80127 là 16.160.000 đồng (mười sáu triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, xe mang BKS 29H – 801.27 (xe đã cũ qua sử dụng) 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic, màu sơn trắng, xe mang BKS 24A – 232.52 (xe đã cũ qua sử dụng) 01 giấy phép lái xe số [...] (hạng C) mang tên Lê Văn T
Cáo trạng số: 14/CT -VKSBY ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm d Khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 01 (một năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù;
Cấm hành nghề đối với bị cáo.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị trả lại cho bị cáo Lê Văn T 01 giấy phép lái số [...] (hạng C) mang tên Lê Văn T
2
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tóm tắt ở trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại ông Lê Công T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo
N2 có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đã nhận đủ tiền bồi thường không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn T, tại phiên tòa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác đã có trong hồ sơ. Như vậy, có căn cứ để xác định nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông ngày 09 giờ ngày 26/4/2024 tại km 216+724 Cao tốc N Lào Cai thuộc địa phận xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai là do bị Lê Văn T điều khiển xe ô tô tải BKS: 24H – 009.02 do không chú ý quan sát nên đi vào làn đường khẩn cấp nên đã đâm xe BKS: 24A 232-52 hậu quả làm xe ô tô Honda cvic BKS 24A 23552 hư hỏng thiệt hại 280.130.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) Giá trị thiệt hai của chiếc xe ô tô tải BKS: 29H 80127 là 16.160.000 đồng (mười sáu triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Đối với bị hại Lê Công T1 khi điều khiển xe ô tô chuyển hướng quay đầu trên cao tốc, vi phạm khoản 4 điều 15 Luật giao thông đường bộ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai đề nghị chuyển hồ sơ tài liệu liên quan cho Cục C Bộ C1 lập hồ sơ xử lý vi phạm. Do vậy, xác định nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo có một phần lỗi từ phía bị hại.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, tài liệu kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
3
Như vậy, bản Cáo trạng số 14/CT -VKSBY ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn T là nguy hiểm cho xã hội. Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn công cộng. Trong thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói chung và địa bàn huyện B nói riêng đã xảy ra rất nhiều vụ án tai nạn giao thông đường bộ. Nguyên nhân chủ yếu là do người tham gia giao thông đường bộ không đội mũ bảo hiểm, không chấp hành đúng các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, không quan sát khi quay đầu, rẽ hoặc vượt làn... Do vậy, để nâng cao hiệu quả đấu tranh và phòng chống loại tội phạm này thì cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc tương ứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tiền án, tiền sự. Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, có nơi cư trú rõ ràng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức giáo dục răn đe đối với bị cáo đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là chưa phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Lê Văn T, quá trình điều tra bị cáo đã thật thà khai báo, bị cáo Lê Văn T tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó cần áp dụng đối với bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s Khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[ 5] Về phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lê Văn T 01 giấy phép lái số [...] (hạng C) mang tên Lê Văn T
[7] Về trách nhiệm dân sự : Bị hại Lê Công T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ số tiền bồi thường không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Về án phí: Căn cứ điều 136 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d Khoản 1 Điều 260; điều 65; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù; nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Lê Văn T 01 giấy phép lái số [...] (hạng C) mang tên Lê Văn T do Sở giao thông vận tải tỉnh Y cấp ngày 19/12/2019.
Về án phí: Áp dụng Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: THẨM - TAND tỉnh; Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa - VKSND HBY; - Công an HBY; - Sở tư pháp; - Bị cáo; UBND Văn phú - BH; NCQLNVLQ - T.H.A; - Lưu Nguyễn Thị Thanh Vân |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
5
6
7
Bản án số 18/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 18/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tu
