Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26 tháng 8 năm 2024

V/v: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghị và ông Hà Đức Trưởng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Thực - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1976; Địa chỉ: khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị C: ông Lã Thành C1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

- Bị đơn: Anh Hà Văn T, sinh năm 1974; Địa chỉ: khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T: ông Bùi Đức D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/7/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Hoàng Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn Thủy c sống với nhau từ năm 1996, tuy nhiên anh chị không thực hiện việc Đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hai người chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc cho đến khoảng năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến hai bên không tìm được tiếng nói chung. Chị và anh T đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn nên chị C làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết tuyên bố chị với anh Hà Văn T không phải là vợ chồng.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh T có 02 con chung là cháu Hà Thị D1, sinh ngày 24/11/1997 và cháu Hà Thị Xuân T1, sinh ngày 06/6/2001. Nay các cháu đều đã thành niên nên chị không đề nghị Toà án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Hai bên tự thoả thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

[2]. Bị đơn anh Hà Văn T, trong quá trình giải quyết vụ án anh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T xác nhận về thời gian chung sống, ly thân, quá trình phát sinh mâu thuẫn như chị C trình bày trong đơn khởi kiện và bản tự khai là đúng. Anh và chị C có chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Nay chị C đề nghị Toà án tuyên bố hai người không phải là vợ chồng, anh hoàn toàn đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh và chị C có 02 con chung là cháu Hà Thị D1, sinh ngày 24/11/1997 và cháu Hà Thị Xuân T1, sinh ngày 06/6/2001. Nay các cháu đều đã thành niên, tự chăm sóc được cho bản thân nên anh không đề nghị Toà án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Hai bên tự thoả thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

[3]. Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Nhất trí theo quan điểm của chị C trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C, tuyên bố chị C với anh T không phải là vợ chồng.

Về con chung: Cháu D1 và cháu T1 đều đã thành niên, tự lao động được nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị C, anh T không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn:

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

[5]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Việc nhận đơn, thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Thẩm phán đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Nguyên đơn và Bị đơn đúng theo khoản 5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn, Bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Chị C, anh Thủy c sống với nhau từ năm 1996, tuy nhiên hai bên đã không thực hiện việc Đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình, tuyên bố chị C với anh T không phải là vợ chồng.

Về con chung: Chị C, anh T có 02 con chung là cháu Hà Thị D1, sinh ngày 24/11/1997 và cháu Hà Thị Xuân T1, sinh ngày 06/6/2001. Nay các cháu đều đã thành niên, tự lao động được nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị C, anh T không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào chị C, anh T có yêu cầu thì anh, chị có quyền làm đơn đề nghị giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định.

Về án phí dân sự: Chị Hoàng Thị C phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiên phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị C có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tuyên bố chị với anh Hà Văn T, sinh năm 1974; trú tại: khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ không phải là vợ chồng. Đây là tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình. Căn cứ quy định tại khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị C, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị C và anh Hà Văn T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1996 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hai người chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc cho đến khoảng năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến hai bên không tìm được tiếng nói chung và sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay tình cảm không còn nên chị C làm đề nghị Tòa án tuyên bố chị với anh Hà Văn T không phải là vợ chồng.

Căn cứ quy định tại điểm b, mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình:

“b) N và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”.

Theo quy định trên, chị C và anh T có đủ điều kiện kết hôn và có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003. Tuy nhiên cho đến nay anh chị vẫn chưa thực hiện việc đăng ký kết hôn, do đó pháp luật không công nhận anh, chị là vợ chồng.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị C và anh Hà Văn T chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội và khoản 4 Điều 3 thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình không công nhận Chị Hoàng Thị C và anh Hà Văn T là vợ chồng là phù hợp.

[3]. Về con chung: Chị C, anh T có 02 con chung là cháu Hà Thị D1, sinh ngày 24/11/1997 và cháu Hà Thị Xuân T1, sinh ngày 06/6/2001. Nay các cháu đều đã thành niên, tự lao động được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị C, anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này chị C, anh T có yêu cầu thì anh; chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.

[5]. Về án phí: Chị C phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

[6]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Hoàng Thị C và anh Hà Văn T là vợ chồng.

Về con chung: Cháu Hà Thị D1 và cháu Hà Thị Xuân T1 đều đã thành niên, tự lao động được nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Hoàng Thị C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị C đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0004678 ngày 02/8/2024.

Về quyền kháng cáo: Chị C, anh T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Sơn;
  • - UBND xã Thu Cúc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đinh Văn Chí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị C khởi kiện ly hôn với anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger