|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 18/2024/DS-ST. Ngày: 26-04-2024. v/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Quí Hạc.
- Bà Đào Thị Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 đến 26 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử công khai vụ án thụ lý số 310/2019/TLST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ E, ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1992, địa chỉ: Tổ E, ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1959, địa chỉ: Tổ E, ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn-bà Nguyễn Thị H và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn-bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày:
Vào khoảng năm 1997, bà nội của bà H nhận chuyển nhượng đất và sử dụng đến năm 2003 thì tặng cho cha của bà H là ông Nguyễn Văn T, trong đó có thửa đất số 294, tờ bản đồ 29 xã S. Đến năm 2014, ông Nguyễn Văn T tiến hành tách thửa 294 thành các thửa 565, 566, và 567 tờ bản đồ 29 xã S cho các các con. Bà Nguyễn Thị H được tặng cho thửa đất số 567, tờ bản đồ 29, xã S. Bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 083065 ngày 27/12/2014 diện tích 356m². Cùng thời gian này bà H xây dựng một ngôi nhà cấp 4 trên đất để ở cho đến nay. Năm 2019, bà H có làm thủ tục đo đạc lại để tiến hành cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện ra việc thiếu đất và cho rằng bà L lấn chiếm. Bà H có nộp đơn ra UBND xã S để yêu cầu giải quyết nhưng không được nên bà khởi kiện ra Tòa án. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Kim L phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 6.2m² được giới hạn bởi các mốc (1', 2', 3', 4', 5, 6, A, B, C, 14, 15, 16', 17', 1') theo bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1023/2023 ngày 17/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2.
Bà H thống nhất với bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1023/2023 ngày 17/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 và chứng thư thẩm định giá số 250/TĐG-CT ngày 02 tháng 08 năm 2023 của Công ty cổ phần T3.
* Trong bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn-bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:
Năm 2008, bà L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 294, tờ bản đồ 29 xã S từ ông Nguyễn Phi H1 và bà Thái Thị Mai Lê . Khi chuyển nhượng thì các bên có chỉ ranh giới thửa đất. Lúc này, hàng ranh giữ bà và nhà ông T (cha của bà H) là hàng râm bụt. Trên thửa đất mà bà L nhận chuyển nhượng đã có sẵn 01 ngôi nhà cấp 4. Sau khi nhận chuyển nhượng thì bà có sửa chữa nhà, xây thêm nhà phía sau và hàng rào ranh đất với ông T (cha của bà H). Đến khoảng ngày 02/09/2008 thì hoàn thành và sử dụng ổn định đến nay. Khi đó, phía bà H chưa xây dựng nhà như hiện tại. Lúc bà sửa nhà cũ, xây nối nhà phía sau và hàng rào thì ông T là cha của bà H chứng kiến nhưng không ý kiến gì. Đến nay, nhà và hàng rào vẫn còn nguyên, không thay đổi. Đến năm 2014, bà Nguyễn Thị H xây nhà ở, sát ranh tường rào cũ của bà đã xây dựng và không có phát sinh tranh chấp. Đến năm 2019, khi bà H đi làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp do bà H cho rằng bị thiếu đất và do bà lấn chiếm. Nay bà xác định, bà sử dụng đúng ranh đất và không lấn chiếm đất của bà H. Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 6.2m² được giới hạn bởi các mốc (1', 2', 3', 4', 5, 6, A, B, C, 14, 15, 16', 17', 1') theo bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1023/2023 ngày 17/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 thì bà không đồng ý. Bà đề nghị Tòa án giữ nguyên ranh giới hiện tại giữa các bên.
Bà L thống nhất với bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1023/2023 ngày 17/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 và chứng thư thẩm định giá số 250/TĐG-CT ngày 02 tháng 08 năm 2023 của Công ty cổ phần T3.
* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom:
Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc thu thập chứng cứ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Do không có căn cứ xác định bà L lấn đất của bà H nên đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu tiền án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện thì bà Nguyễn Thị H cho rằng bà Nguyễn Thị Kim L sử dụng đất sai ranh, lấn chiếm đất của bà H nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Kim L phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Theo trình bày của nguyên đơn-bà Nguyễn Thị H và chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án thì về nguồn gốc đất của bà Nguyễn Thị H: Vào khoảng năm 1997, bà nội của bà H nhận chuyển nhượng đất và sử dụng đến năm 2003 thì tặng cho cha của bà H là ông Nguyễn Văn T, trong đó có thửa đất số 294, tờ bản đồ 29 xã S. Đến năm 2013, thì ông T tặng cho con là Nguyễn Thị T1. Bà T1 tiến hành tách thửa 294 thành 03 thửa là 565, 566, và 567 tờ bản đồ 29 xã S. Đến năm 2014, bà T1 làm thủ tục tặng cho bà H thửa đất số 567, tờ bản đồ 29, xã S. Bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 083065 ngày 27/12/2014 đối với diện tích 356m² thửa đất số 567, tờ bản đồ 29, xã S.
[2.2] Theo trình bày của nguyên đơn-bà Nguyễn Thị Kim L và chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án thì về nguồn gốc đất của bà Nguyễn Thị Kim L: Thửa đất số 394, tờ bản đồ 29 xã S được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn H2 vào năm 2004 có diện tích 254m². Đến năm 2007, ông H2 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phi H1 và bà Thái Thị Mai Lê . Ông Nguyễn Phi H1 và bà Thái Thị Mai L1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG869921 ngày 28/03/2007. Năm 2008, ông Nguyễn Phi H1 và bà Thái Thị Mai L1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Kim L và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Trảng Bom chỉnh lý biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về chủ sử dụng đất vào ngày 10/09/2008. Khi nhận chuyển nhượng thì trên đất đã có 01 ngôi nhà cấp 4. Sau khi nhận chuyển nhượng thì bà L sửa và xây thêm phần nhà sau như hiện trạng sử dụng hiện nay. Ngoài ra, cùng thời điểm đó, bà L còn xây thêm hàng rào từ trước ra sau đất đối với phần ranh đất nhà ông Nguyễn Văn T.
[2.3] Theo như sự thừa nhận của các đương sự thì khi bà L xây nhà và hàng rào vào năm 2008 thì ông Nguyễn Văn T (cha của bà Nguyễn Thị H) chứng kiến. Từ năm 2008 đến năm 2019 thì giữa hai bên bà H và bà L không xảy ra tranh chấp về ranh đất. Đến năm 2019, khi bà H làm thủ tục đo đạc lại đất để cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện đất bị thiếu và xác định do bà L lấn chiếm.
[2.4] Qua xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc, chồng ghép bản đồ đối với phần đất tranh chấp thì có kết quả là bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1023/2023 ngày 17/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2. Qua xem xét bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính nêu trên thì thấy rằng phần ranh giới giữa thửa đất số 567 và 394 tờ bản đồ 29 xã S theo tài liệu bản đồ địa chính năm 1999, bản đồ địa chính năm 2017 và hiện trạng sử dụng có sự khác biệt. Nguyên đơn-bà H cho rằng bà L có lấn chiếm đất và yêu cầu bà L phải trả lại diện tích đất 6.2m² đã lấn chiếm được giới hạn bởi các mốc (1', 2', 3', 4', 5, 6, A, B, C, 14, 15, 16', 17', 1') theo bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1023/2023 ngày 17/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2.
[2.4] Tại Văn bản số 5518/CNTB-ĐĐ ngày 10/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2: “Về nguyên nhân sự khác nhau giữa ranh bản đồ địa chính cũ, bản đồ địa chính mới và ranh thực tế mà đương sự đang quản lý sử dụng đối với thửa đất số 394 và 567, tờ bản đồ số 29 xã S.
Bộ bản đồ địa chính các xã, thị trấn thuộc địa bàn huyện T được đo vẽ thành lập từ năm 1995 đến năm 1999, được lập ở dạng giấy theo hệ tọa độ HN-72, sau đó được số hóa và chuyển đổi sang hệ tọa độ VN-2000.
Bộ bản đồ địa chính mới (đo thành lập mới, đo chỉnh lý) được đo đạc, chỉnh lý biến động theo hệ tọa độ VN-2000, lưới địa chính và lưới khống chế đo vẽ được xây dựng bằng công nghệ GNSS đo tĩnh, bản đồ địa chính được đo vẽ trực tiếp phương pháp toàn đạc kết hợp với công nghệ bản đồ số.
Do 2 bộ bản đồ địa chính được thành lập theo phương pháp, quy trình và tại thời điểm khác nhau nên ranh giới thửa đất thể hiện trên mỗi bộ bản đồ địa chính có thể khác nhau và việc chồng ghép chỉ mang tính tham khảo, việc xác định diện tích chênh lệch, ranh giới chồng lấn (nếu có) giữa 2 bộ bản đồ là không có cơ sở.”
[2.5] Tại Văn bản số 21/CNTB-TTLT ngày 02/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2: “Bản đồ địa chính xã S cũ được thành lập thời điểm năm 1999, bản đồ địa chính mới được thành lập thời điểm năm 2017, hiện hai thửa đất nêu trên chưa được cấp đổi theo nền bản đồ địa chính mới, do đó chưa có hồ sơ cấp đổi để xác định nguyên nhân thay đổi. Về nội dung nguyên nhân thay đổi diện tích thuộc thẩm quyền xác nhận của UBND cấp xã, do đó đề nghị Tòa án nhân dân huyện liên hệ UBND xã để xác định nguyên nhân thay đổi diện tích giữa hai nền bản đồ địa chính cũ và mới theo quy định.”
[2.6] Tại biên bản xác minh ngày 27/02/2024 tại UBND xã S: “Việc thay đổi diện tích của thửa 394, tờ bản đồ 29 xã S và thửa đất 567, tờ bản đồ 29 xã S theo bản đồ địa chính xã S cũ (thành lập 1999) và bản đồ địa chính mới (thành lập thời điểm năm 2017) là do chênh lệch giữa hai lần đo đạc, do kết quả tại hai thời điểm khác nhau. Thời điểm lập bản đồ địa chính cũ thì đo vẽ theo thước dây, thủ công còn theo bản đồ địa chính mới thì đo theo phương tiện máy móc đo đạc.”
[2.7] Từ những nội dung phân tích nêu trên, chưa có căn cứ và cơ sở để xác định bà Nguyễn Thị Kim L lấn chiếm đất của bà Nguyễn Thị H. Do đó, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu bà L trả lại đất lấn chiếm có diện tích 6.2m² được giới hạn bởi các mốc (1', 2', 3', 4', 5, 6, A, B, C, 14, 15, 16', 17', 1') theo bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1023/2023 ngày 17/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2.
[3] Về án phí:
Do không được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên nguyên đơn-bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn- bà Nguyễn Thị H phải chịu là 24.258.000 đồng chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn-bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn- bà Nguyễn Thị Kim L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất".
2. Về án phí:
Nguyên đơn-bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007448 ngày 11/10/2019. Bà H đã nộp đủ án phí.
3. Về chi phí tố tụng:
Nguyên đơn- bà Nguyễn Thị H phải chịu 24.258.000 đồng. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Nam |
||
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN
|
|||
6
Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 18/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng năm 1997, bà nội của bà Hoàn nhận chuyển nhượng đất và sử dụng đến năm 2003 thì tặng cho cha của bà Hoàn là ông Nguyễn Văn Thành, trong đó có thửa đất số 294, tờ bản đồ 29 xã Sông Trầu. Đến năm 2014, ông Nguyễn Văn Thành tiến hành tách thửa 294 thành các thửa 565, 566, và 567 tờ bản đồ 29 xã Sông Trầu cho các các con. Bà Nguyễn Thị Hoàn được tặng cho thửa đất số 567, tờ bản đồ 29, xã Sông Trầu. Bà Hoàn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 083065 ngày 27/12/2014 diện tích 356m2. Cùng thời gian này bà Hoàn xây dựng một ngôi nhà cấp 4 trên đất để ở cho đến nay. Năm 2019, bà Hoàn có làm thủ tục đo đạc lại để tiến hành cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện ra việc thiếu đất và cho rằng bà Lan lấn chiếm. Bà Hoàn có nộp đơn ra UBND xã Sông Trầu để yêu cầu giải quyết nhưng không được nên bà khởi kiện ra Tòa án. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Kim Lan phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 6.2m2 được giới hạn bởi các mốc (1’, 2’, 3’, 4’, 5, 6, A, B, C, 14, 15, 16’, 17’, 1’) theo bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1023/2023 ngày 17/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai-chi nhánh Trảng Bom. Bà Hoàn thống nhất với bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1023/2023 ngày 17/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai-chi nhánh Trảng Bom và chứng thư thẩm định giá số 250/TĐG-CT ngày 02 tháng 08 năm 2023 của Công ty cổ phần thẩm định giá Đồng Tiến.
