|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HSST Ngày 26-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Quang
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hoa - giáo viên
- Bà Nguyễn Thị Giang
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 02 ngày 21/3/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 03 ngày 28/3/2024, thông báo mở phiên tòa số: 07 ngày 12/4/2024 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo: Nguyễn Trọng B, sinh ngày 02/3/2006 (đến thời điểm phạm tội, bị cáo B 17 tuổi 4 tháng 7 ngày); Nơi cư trú: khu C, xã B, huyên P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và con bà Nguyễn Thị Mai H1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện đang áp dụng biện pháp giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát.
- Người đại diện cho bị cáo B: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Người bào chữa cho bị cáo B: Bà Bùi Thị Thanh N, trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
2. Bị cáo: Nguyễn Minh K, sinh năm 2003; Nơi cư trú: khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và con bà Đặng Hồng C; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 13/03/2022, Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 2.500.000đ, về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác (K đã thi hành xong ngày 21/03/2022);
Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 06/02/2024 của TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, xử phạt bị cáo K 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Bị cáo không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong vụ án này, hiện đang chấp hành án tại trại giam Q, cục C1, Bộ C2.
3. Bị hại: Cháu Lê Đức Công M, sinh ngày 23/8/2007. Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện cho cháu M là bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1976 (mẹ đẻ cháu M). Người giám hộ cho cháu M là chị Lê Thị Lan H4, sinh năm 1993. Địa chỉ: khu C, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (chị gái cháu M).
4. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Cháu Trần Đức P, sinh năm 2008. Địa chỉ: Khu H, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Người giám hộ: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1959. Địa chỉ: khu H, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ (bà nội cháu P).
- - Anh Đỗ Trọng T, sinh năm 1988. Địa chỉ: khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- - Anh Nguyễn Vũ H5, sinh năm 1985. Địa chỉ: khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- - Cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 09/12/2007. Địa chỉ: khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện cho cháu D là bà Trần Thị Thu H6, sinh năm 1979. Địa chỉ: khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (mẹ đẻ cháu D).
- - Đại diện đoàn thanh niên xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ là ông Trần Thanh T1, hiện đang làm bí thư Đoàn Thanh Niên xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Bị cáo B, bị cáo K có mặt; ông H vắng mặt; bà H4 có mặt. bà N có mặt; cháu M, bà H3, chị H4 có đơn xin xét xử vắng mặt; cháu P, bà Đ vắng mặt; anh T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh H5 vắng mặt; cháu D, bà H6 vắng mặt; ông T1 có đơn xin xét xử vắng mặt),
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 09/7/2023, Nguyễn Trọng B, sinh ngày 02/3/2006, thường trú tại khu C, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ cùng một số người bạn đến nhà cháu Lê Đức Công M, sinh ngày 23/8/2007 ở cùng khu để chơi điện tử. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì cháu M có việc phải đi, nên B và nhóm bạn ra về; khi đi cháu M khép cửa chính, khóa cửa cổng. Khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, B tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát 19P1-410.42 của bố đẻ là ông Nguyễn Văn H rồi điều khiển xe mô tô đến nhà Trần Đức P rủ P đi chơi. Cả hai đi đến đoạn đường gần nhà cháu M, B nảy sinh ý định vào nhà của cháu M để trộm cắp tài sản, nên nói với P “Thằng M không có nhà, sang xem nhà nó có gì không”. P đồng ý và nói “Bây giờ lai sang để em vào nhà xem có gì lấy được không”. Bính chở P đến cổng nghĩa trang liệt sĩ xã B thì dừng lại cất xe ở cổng nghĩa trang, rồi cùng P đi bộ về phía nhà M. Khi cách nhà M khoảng 20m, B đứng phía ngoài cảnh giới, còn P đi theo lối từ phía sau nhà lên cửa chính thấy cửa không khóa và có chèn một viên gạch xi măng dưới chân cửa nên dùng tay nhặt viên gạch để ra bên cạnh, mở cửa đi vào trong nhà. P đi vào phòng ngủ của cháu M quan sát thấy cạnh bàn học có một bậc ốp gạch, trên bậc có để 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS, màu vàng, có ốp nhựa màu da cam và 01(một) chiếc máy tính laptop màu đen, nhãn hiệu DELL Latitude 3350. P cầm chiếc điện thoại đúc vào túi quần và ôm chiếc máy tính laptop chạy ra ngoài chỗ B đang đứng đợi. P nói với B: “Có lấy được một chiếc điện thoại và một cái laptop”, rồi cả hai cùng nhau chạy ra chỗ để xe mô tô. Khi đi đến ven tường rào của nghĩa trang thì P bảo B: “Anh đi ra trước đi để em giấu laptop đã”. P giấu chiếc máy tính laptop ở ven tường nghĩa trang, sau đó cùng B đi về, trên đường về P tháo chiếc sim, số 0358606504 lắp trong máy điện thoại trộm cắp được của M vứt ở ven đường. Đến ngày 10/07/2023, P và B đến quán mua bán điện thoại của anh Đỗ Trọng T để bán chiếc điện thoại trộm cắp nêu trên. Khi gặp anh T thì P nói là điện thoại của P nhưng không nhớ mật khẩu nên muốn bán, anh T kiểm tra điện thoại và trả giá 1.000.000đ, P và B đồng ý bán. Anh T sử dụng tài khoản Ngân hàng V số [...] chuyển cho Bính 1.000.000đ (một triệu đồng) đến tài khoản Ngân hàng M1 do B sử dụng. Sau đó B đi đến quán bán hàng tạp hóa Dũng D1 của chị Nguyễn Thị Vân A nhờ đổi 1.000.000₫ mà anh T vừa chuyển khoản cho B thành tiền mặt. Sau khi đổi được tiền, B chia cho P 500.000đ, còn 500.000₫ Bính chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 16/07/2023, P sử dụng tài khoản Facebook của B nhắn tin qua ứng dụng Mesenger cho Nguyễn Minh K, sinh năm 2003, thường trú tại khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ nhờ K đi đến nghĩa trang liệt sỹ xã B để lấy hộ chiếc máy tính laptop mà P, B trộm cắp tại nhà của cháu Lê Đức Công M và mang xuống phòng trọ của B ở thành phố V. Buổi tối cùng ngày K đi một mình đến nghĩa trang xã B, theo sự chỉ dẫn của P thông qua ứng dụng Messenger, K đã tìm được chiếc máy tính mà P cất giấu tại nền đất ven tường rào nghĩa trang, rồi đem về nhà. Đến sáng 17/07/2023, K rủ bạn là Nguyễn Tiến D, sinh ngày 09/12/2007, thường trú tại khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ xuống phòng trọ của B ở thành phố V chơi. K mang theo chiếc máy tính laptop (đựng trong ba lô), điều khiển xe mô tô chở D ngồi sau. Gặp B, K đưa máy tính laptop cho B. B và P cầm máy tính laptop đi ra hiệu cầm đồ nhưng không cầm cố được. Bính về bảo K xem có chỗ nào hỏi bán hộ, K đồng ý rồi lấy điện thoại ra gọi cho anh Nguyễn Vũ H5 hỏi có mua máy tính laptop không, do có nhu cầu mua máy tính để cho con học tập nên anh Hiệp đồng ý mua với giá 2.000.000đ. Anh H5 sử dụng tài khoản Ngân hàng A1 số 2709205267610 chuyển cho K 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) đến tài khoản Ngân hàng M1 do K sử dụng để trả trước một phần tiền mua máy tính. Sau khi nhận tiền, K chuyển cho B 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) từ tài khoản của B số 0339623033. Bính sử dụng 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đi mua đồ ăn trưa cho số người trên, còn lại tiêu xài cá nhân hết. Do D đi chơi cùng nên K cho D 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) qua tài khoản số 0941136952 - Ngân hàng M1 của D. Một lúc sau thì anh H5 chuyển khoản tiếp cho K 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để thanh toán tiền mua máy tính laptop, lần chuyển tiền này của anh Hiệp K1 không nói cho B và P biết. Đến trưa ngày 17/07/2023, K1 một mình mang máy tính đến nhà đưa cho anh Nguyễn Vũ H5, anh H5 trả nốt cho K1 số tiền mua máy tính còn lại là 700.000₫ (bảy trăm nghìn đồng). Sau khi nhận tiền xong, do muốn chiếm giữ toàn bộ số tiền này để sử dụng nên K1 nhắn tin cho B qua Messenger nói dối là máy tính laptop cũ chỉ bán được 800.000đ (tám trăm nghìn đồng), B không trả lời tin nhắn của K1. Sau đó K1 đã tiêu xài cá nhân hết số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) bán máy tính trên.
Quá trình giải quyết vụ việc, anh Nguyễn Vũ H5 đã tự giác giao nộp cho Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện P 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 3350. Đối với chiếc điện thoại di động Iphone XS kèm theo ốp nhựa, anh Đỗ Trọng T khai do nhiều người đến giao dịch hàng ngày nên không nhớ chiếc điện thoại trên để ở đâu hay bán cho ai; chiếc sim của điện thoại số 0358.606.xxx Phát vứt ở ven đường, không rõ vị trí cụ thể, nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Ngày 13/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P ban hành Văn bản yêu cầu định giá tài sản, đối với các tài sản B và P trộm cắp của cháu M. Tại Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 26/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự – UBND huyện P, kết luận:
“- 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 3350, màu đen, số serial: GZ96ZB2, sản xuất năm 2014, đã qua sử dụng có giá trị là 2.000.000₫ (hai triệu đồng).
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, loại 64 GB, bản quốc tế, sản xuất năm 2019 đã qua sử dụng có giá trị là 4.300.000đ (bốn triệu ba trăm nghìn đồng).
- 01 (một) ốp điện thoại Iphone XS màu cam, bằng nhựa đã qua sử dụng có giá trị là 20.000đ (hai mươi nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản trên là 6.320.000₫ (sáu triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).”
Về điều kiện kinh tế: Các bị cáo đều không có tài sản trị giá ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu. Xác minh thu nhập trung bình của người lao động tự do tại xã B và xã T là 200.000đ/người/ngày.
Cáo trạng số: 07/CT-VKSPN ngày 29/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Trọng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và Nguyễn Minh K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo B, bị cáo K và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự:
- Hình phạt chính:
* Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i, o khoản 1 Điều 52; khoản 1,2 Điều 65; các điều 50, 90, 91, 101 BLHS; các điều 331, 333 BLTTHS:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo B từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Giao bị cáo Nguyễn Trọng B cho UBND xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 38, 50, 56, BLHS; các điều 331, 333 BLTTHS:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội danh “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có;
Xử phạt bị cáo K từ 12 đến 15 tháng tù; tổng hợp 04 năm tù của Bản án số 06 ngày 06/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án từ 05 năm đến 05 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2023.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 các điều 173, 323 BLHS thì người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đế 50.000.000đ. Tuy nhiên, bị cáo B là người chưa thành niên; các bị cáo là lao động tự do, không có tài sản gì có giá trị, nên không đề nghị phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 BLTTHS: Trả cho bị hại Lê Đức Công M 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 3350.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí, buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo B là bà N đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, chấp hành tốt chính sách của Đảng và nhà nước, có 04 tình tiết giảm nhẹ, 02 tình tiết tăng nặng và khi phạm tội là người chưa thành niên nên có đầy đủ điều kiện để hưởng án treo. Đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo B 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Người đại diện cho bị cáo B là bà H4 nhất trí với quan điểm của bà N.
Đại diện đoàn thanh niên xã B xin vắng mặt và có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B, bị cáo K.
Ngày 19/3/2024, cháu M, người đại diện cho cháu M, người giám hộ cho cháu M có đơn xin xét xử vắng mặt gửi cho tòa án. Cháu M có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B, bị cáo K;
Ngày 19/3/2024, anh Nguyễn Trọng T2 có đơn xin xét xử vắng mặt trong đó có nội dung không đề nghị bị cáo B phải bồi thường số tiền 1.000.000₫ mà anh T2 đã chuyển cho bị cáo B để mua điện thoại.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng và đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, kiểm sát viên huyện P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt theo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo B và bị cáo K đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/07/2023 tại nhà ở của cháu Lê Đức Công M thuộc khu C, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Trọng B và Trần Đức P trộm cắp của cháu M: 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 3350, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, gắn sim số 0358.606.504, kèm theo ốp nhựa điện thoại. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 6.320.000₫ (Sáu triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) theo như kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 26/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự – UBND huyện P.
Đối với Nguyễn Minh K, mặc dù biết rõ chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 3350 nêu trên do B và P phạm tội mà có, song K vẫn giúp các đối tượng đi tìm, lấy máy tính tại nơi cất giấu, sau đó liên hệ và bán máy tính cho anh Nguyễn Vũ H5, với số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) để cùng hưởng lợi.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng B đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Minh K đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Đối với Trần Đức P thực hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (tội ít nghiêm trọng), tuy nhiên thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì P ở độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi nên theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì P chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P là phù hợp.
[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo B, bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Trong vụ án này, bị cáo B là người nảy sinh ý định trộm cắp rồi rủ P thực hiện hành vi phạm tội, theo đó P là người trực tiếp vào nhà cháu M trộm cắp và bị cáo B là người đứng phía ngoài cảnh giới. Đối với bị cáo K tuy không bàn bạc trước đối với P, bị cáo B nhưng bị cáo K biết chiếc máy tính laptop do P, bị cáo B phạm tội mà có nhưng vẫn giúp các đối tượng đi tìm, lấy máy tính tại nơi cất giấu, sau đó liên hệ và bán máy tính cho anh Nguyễn Vũ H5, với số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) để cùng hưởng lợi. Do đó, cần phải xử lý bị cáo B, bị cáo K một mức án phù hợp tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính đối với các bị cáo:
- Bị cáo B có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng ổn định. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Trọng B trộm cắp tài sản của bị hại Lê Đức Công M khi cháu M chưa đủ 16 tuổi; tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo B là người rủ rê, thúc đẩy cháu P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bởi lẽ trước khi bị cáo B nảy sinh ý định trộm cắp thì cháu P chưa có ý định trộm cắp tài sản của bị hại là cháu M mà cháu P chỉ có ý nghĩ cùng bị cáo B đi chơi, khi cháu P ngồi cùng xe mô tô với bị cáo B đến gần nhà cháu M thì bị cáo B đã có lời nói tác động đến tâm lý, tinh thần của cháu P từ đó cháu P mới có ý định phạm tội và đồng ý cùng bị cáo B trộm cắp tài sản, khi lấy được tài sản bán để có tiền tiêu sài. Tại thời điểm bị cáo B và cháu P thực hiện hành vi trộm cắp thì bị cáo B và cháu P đang ở độ tuổi dưới 18 tuổi nhưng bộ luật hình sự hiện hành không quy định người dưới 18 tuổi phạm tội mà có hành vi xúi giục người dưới 18 tuổi khác phạm tội thì không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này như đại diện viện kiểm sát đã trình bày tại phiên tòa là phù hợp. Do vậy, bị cáo B phải chịu hai tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo B được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS do bị cáo B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự giác bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại và người đại diện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B. Đối chiếu với nội dung đã được phân tích nêu trên với quy định của Bộ luật hình sự bị cáo B có đủ điều kiện được hưởng án treo. Hơn nữa, bị cáo B khi phạm tội đang ở độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi, là người đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý và nhân cách sống nên việc xử lý bị cáo mục đích chính chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Với hành vi này nếu là người đã thành niên thì cần áp dụng mức hình phạt 8 tháng tù là phù hợp nhưng do khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên cần áp dụng các chế định của Bộ luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội cụ thể ¾ mức phạt tù x 8 tháng tù và cho bị cáo B được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo B và phù hợp với nguyên tắc xử lý người bị buộc tội dưới 18 tuổi.
- Bị cáo K có nhân thân xấu, không có tiền án tiền sự. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 do “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo K là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đối với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Ngoài ra, ngày 06/02/2024 bị cáo K còn bị TAND huyện Phù ninh xử phạt 04 (B1) năm tù về tội “Cướp tài sản”, hiện nay bị cáo K đang chấp hành án tại trại giam Q nên cần tổng hợp hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xét mức hình phạt chính mà đại diện viện kiểm sát nêu tại phiên tòa đối với bị cáo K, bị cáo B là phù hợp và được xem xét khi quyết định hình phạt.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo B khi phạm tội là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp. Đối với bị cáo K nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản trị giá ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo K.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
- Đối với chiếc điện thoại di động Iphone XS, ốp nhựa và thẻ sim điện thoại. ngày 15/11/2023, cháu Trần Đức P và bị cáo Nguyễn Trọng B đã tự nguyện bồi thường cho cháu M trị giá thiệt hại các tài sản trên mỗi người là 2.500.000đ, tổng số tiền bồi thường là 5.000.000đ (năm triệu đồng) nên cần xác nhận việc bồi thường này là phù hợp. Ngoài số tiền P, bị cáo B đã bồi thường tổng cộng là 5.000.000đ nêu trên, cháu M không yêu cầu P, bị cáo B bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- Đối với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) mà anh H5 đã bỏ ra để mua máy tính laptop từ bị cáo K. Đây là giao dịch dân sự vô hiệu do người bán không phải là chủ sở hữu, chiếc máy tính cần trả cho bị hại là cháu M nên lẽ ra cần buộc bị cáo K phải trả cho anh H5 số tiền 2.000.000₫ này. Tuy nhiên, anh Nguyễn Vũ H5 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh K phải bồi thường nên cần ghi nhận ý chí tự nguyện không yêu cầu bồi thường này của anh H5 là phù hợp.
- Đối với số tiền 1.000.000₫ anh T2 dùng số tiền này để mua điện thoại. Anh T2 sử dụng tài khoản Ngân hàng V số [...] chuyển cho bị cáo B 1.000.000₫ (một triệu đồng) đến tài khoản Ngân hàng M1 do bị cáo B sử dụng. Sau đó bị cáo B đi đến quán bán hàng tạp hóa Dũng D1 của chị Nguyễn Thị Vân A nhờ đổi 1.000.000đ mà anh T2 vừa chuyển khoản cho bị cáo B thành tiền mặt. Xét thấy: Khi tham gia giao dịch dân sự, anh T2 không biết điện thoại di động Iphone XS là do cháu P và bị cáo B phạm tội mà có, chiếc điện thoại anh T2 đã nhận từ P và bị cáo B sau khi kết thúc giao dịch do anh T2 nắm giữ, quản lý nhưng anh T2 không nhớ chiếc điện thoại trên để ở đâu hay bán cho ai nên không thu hồi trả cho bị hại được. Tuy nhiên, cần xác định đây là giao dịch dân sự vô hiệu do tài sản mua bán không phải là của chủ sở hữu. Anh T2 không yêu cầu bị cáo B hoàn lại số tiền 1.000.000đ nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của anh T2 là phù hợp.
- Đối với số tiền 500.000đ mà bị cáo B chia cho P từ số tiền 1.000.000₫ của anh T2. Do anh T2 không yêu cầu bị cáo B hoàn lại số tiền này và tại phiên tòa bị cáo B cũng không yêu cầu cháu P hoàn lại số tiền này để trả cho anh T2 nên cần ghi nhận ý kiến tự nguyện này của bị cáo B là phù hợp.
- Đối với số tiền 500.000₫ bị cáo K chuyển cho bị cáo B và số tiền 300.000₫ bị cáo K chuyển cho cháu D. Tại phiên tòa, bị cáo K không yêu cầu bị cáo B và cháu D hoàn lại số tiền này. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của bị cáo K nên chấp nhận.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 3350, màu đen, số serial: GZ96ZB2, tình trạng máy hoạt động bình thường thuộc quyền sở hữu của cháu M do bị cháu P, bị cáo B chiếm đoạt nên cần trả lại cho bị hại là phù hợp.
[8]. Về các vấn đề khác: Đối với anh Đỗ Trọng T, anh Nguyễn Vũ H5, cháu Nguyễn Tiến D không biết điện thoại, máy tính laptop do các đối tượng phạm tội mà có nên không đề cập truy cứu trách nhiệm trong vụ án là phù hợp.
[9]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo B, bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên có căn cứ để xem xét, chấp nhận.
[10]. Về quyền kháng cáo: các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản” và Nguyễn Minh K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i,o khoản 1 Điều 52; Điều 65; Điều 90,91,98, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng B 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Trọng B cho UBND xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đổi với bị cáo B
- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh K 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án số: 06/2024/HS-ST ngày 06/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai Bản án là 60 (sáu mươi) tháng tù. Bị cáo K được trừ đi thời gian đã chấp hành của bản án số 06/2024/HS-ST (từ ngày 05/9/2023 đến ngày 26/4/2024). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/4/2024.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo K
- Về trách nhiệm dân sự:
- - Xác nhận cháu Trần Đức P và bị cáo Nguyễn Trọng B đã tự nguyện bồi thường cho bị hại là cháu Lê Đức Công M trị giá thiệt hại 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS, ốp nhựa và 01 thẻ sim điện thoại với tổng số tiền bồi thường là 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của cháu M không yêu cầu cháu P, bị cáo B bồi thường gì thêm ngoài số tiền đã bồi thường 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
- - Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Vũ H5 không yêu cầu bị cáo K phải bồi thường số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) mà anh H5 đã bỏ ra để mua máy tính.
- - Ghi nhận sự tự nguyện của anh Đỗ Trọng T về việc không yêu cầu bị cáo B hoàn lại số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng).
- - Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo B không yêu cầu cháu P hoàn trả số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
- - Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo K không yêu cầu bị cáo B hoàn trả số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và cháu D hoàn trả số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự,
- - Trả lại cho cháu M 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 3350, màu đen, số serial: GZ96ZB2.
- (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/02/2024)
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1, 2 điều 135, khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc các bị cáo B, bị cáo K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo B, bị cáo K, người đại diện cho bị cáo B là bà H4, người bào chữa cho bị cáo B có quyền kháng cáo; Cháu M, đại diện cho bị hại, người giám hộ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt gồm cháu P, người giám hộ cho cháu P là bà Đ, anh T, anh H5, cháu D, bà H6, người đại diện cho bị cáo B là ông H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Anh Quang |
Bản án số 18/2024/HSST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự về tội "trộm cắp tài sản" và tội "tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
- Số bản án: 18/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Trộm cắp tài sản" và tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyen bo cac bi cao pham toi
