Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KBANG - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Tấn Thắng - Cán bộ hưu trí thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
  2. Ông Phan Đình Toàn - Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Quang Trung, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Sen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hữu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại nhà văn hóa làng S, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đinh Nhel, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1987 tại K, Gia Lai; tại xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai; nơi thường trú: Thôn C, xã N, huyện K, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: Làng S, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai; Số CMND: [...] ngày cấp 07/7/2015, nơi cấp Công an tỉnh G; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Bana; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T (đã chết) và bà Đinh Thị D; bị cáo có vợ là Đinh Thị H (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 18/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  2. Đinh Thây, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1995 tại K, Gia Lai; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Làng H, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai; Số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Bana; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh T1 (đã chết) và bà Đinh Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 18/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh T2: Bà Cao Thị Mi S - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt.

- Bị hại:

  • + Ông Đinh Đ, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Anh Đinh G, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị S1, sinh năm 2001 và anh Phạm văn T3, sinh năm 1995; cùng địa chỉ: Làng S, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người làm chứng:

  • - Anh Đinh S2, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • - Anh Đinh Văn N, sinh năm 1994; địa chỉ: Làng S, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người phiên dịch tiếng Bana: Anh Đinh Văn Q;

Địa chỉ: Công an viên xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 09/6/2024, Đinh T2 đến nhà Đinh Nhel c, uống rượu. Trong lúc uống rượu Nhel rủ T2 đi đến xã S tìm kiếm xe mô tô để lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài, T2 đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, N1T2 cùng nhau đi bộ đến khu vực làng C, xã S dạo tìm nhà dân nào có xe mô tô cất giữ sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đinh N2Đinh T2 đi bộ đến làng C, thuộc thôn E, xã S, huyện K thấy trước sân nhà ông Đinh Đ có dựng 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81H1-145.96, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám, nên N2T2 thống nhất sẽ lấy trộm chiếc xe mô tô này. Khi T2 đi vào trong sân thì gặp ông Đinh Đ, ông Đ mời Thây vào nhà ăn cơm nhưng T2 không vào mà cùng Đinh N2 tiếp tục đi bộ vào trong làng C. Khoảng 05 phút sau, T2N2 quay lại nhà ông Đ, thấy điện ngoài sân đã tắt, xe mô tô vẫn dựng ở vị trí cũ. Quan sát xung quanh không có người nên T2 đã lén lút đi vào trong sân, thấy chìa khóa xe vẫn còn cắm trên ổ khóa, nên T2 đến dắt xe, còn N2 đứng ngoài đường cảnh giới.

Sau khi dắt được xe mô tô ra ngoài đường thì T2 giao cho N2, N2 khởi động xe rồi điều khiển chở T2 đi về hướng Ủy ban nhân dân xã S để về xã S. Về đến khu vực rẫy làng H, xã S, N và T2 giấu xe ở bờ đường rẫy đoạn đi xuống huyện V, tỉnh Bình Định, rồi cả hai đi về làng S tìm người để bán. Đến tối ngày 10/6/2024, N2T2 đến nhà anh Đinh Văn N chơi, ăn nhậu. Thây nhờ anh N hỏi trong làng có ai mua xe mô tô không. Lúc này, anh Phạm Văn T4 và chị Đinh Thị S1 cũng đến nhậu cùng. Tại đây, N giới thiệu với vợ chồng anh T4 việc N2T2 có chiếc xe mô tô loại SIRIUS muốn bán và hỏi vợ chồng anh T4 có mua không. Thâm hỏi Thây xe có giấy tờ không, T2 trả lời có, T4 nói với T2 có gì sáng mai đi xem xe rồi tính. Đến sáng ngày 11/6/2024, T2 dẫn vợ chồng anh T4 đến chỗ giấu xe mô tô để họ xem xe. Sau khi xem xe xong, T2 nói với vợ chồng anh T4 là giấy tờ xe để ở nhà Thây bên làng H, xã K và dẫn họ về nhà T2 để lấy giấy tờ. Khi T2 và vợ chồng anh T4 về đến nhà thì T2 nói với họ giấy tờ xe mẹ Thây giữ, mẹ T2 đi rẫy không có nhà. Thây nói bán xe mô tô trên giá 2.500.000 đồng, giấy tờ xe đưa sau. Vợ chồng anh T4 tin tưởng đồng ý và đưa trước cho Thây 2.000.000 đồng và nói khi nào có giấy tờ xe sẽ đưa số tiền còn lại. Số tiền bán xe trộm cắp được, N2T2 cùng nhau tiêu xài hết.

Ngày 10/6/2024, ông Đinh Đ trình báo sự việc bị mất xe mô tô đến cơ quan Công an. Quá trình điều tra, chị Đinh Thị S1 đã đến Công an huyện K để trình báo sự việc và giao nộp xe mô tô biển kiểm soát 81H1-145.96, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám cho cơ quan Công an để điều tra, xác minh. Ngày 18/6/2024, Đinh T2 đến Công an huyện K để đầu thú và khai nhận về hành vi đã cùng Đinh N2 trộm cắp xe mô tô của ông Đinh Đ vào tối ngày 09/6/2024.

Quá trình điều tra, Đinh T2 còn khai nhận ngoài lần cùng Đinh N2 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, thì trước đó vào tối ngày 05/6/2024, Đinh N2 đến nhà Đinh Thây c1, uống rượu, sau đó N2 rủ T2 đi đến xã Đ tìm kiếm xe mô tô để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Cụ thể: Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi N2T2 đi bộ đến đầu làng C thuộc thôn A, xã Đ, huyện K thấy ở sân nhà ông Đinh G có dựng 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81H1-289.66, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xanh-xám, bị thủng lốp, quan sát xung quanh không có người trông coi nên N2T2 thống nhất lấy trộm chiếc xe này. Nhel ở ngoài cảnh giới, còn T2 đi vào sân lén lút dắt trộm xe. N2T2 dắt xe đến tiệm sửa xe của anh Đinh S3 để bơm lốp xe. Nhel khởi động xe mô tô trộm cắp và điều khiển chở T2 ra thị trấn K để tìm người bán. Khi đến khu vực dốc K thuộc tổ dân phố A, thị trấn K, N và T2 gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) và bán xe mô tô trộm cắp cho người đàn ông này được 2.000.000 đồng. Số tiền bán xe trộm cắp, N2T2 tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐG ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K, kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81H1-145.96, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, dung tích 113cm³, màu xám, đã qua sử dụng của gia đình ông Đinh Đ, tại thời điểm tháng 6/2024 là 7.350.000 đồng (bảy triệu, ba trăm năm mươi nghìn).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐG ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K, kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81H1-289.66, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, dung tích 110,3cm³; màu xanh-xám, đã qua sử dụng của ông Đinh G1, tại thời điểm tháng 6/2024 là 16.380.000 đồng (mười sáu triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng).

* Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi trộm cắp của Đinh N2Đinh T2 qua định giá là: 23.730.000 đồng (hai mươi ba triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá nêu trên.

* Vật chứng liên quan đến vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tạm giữ và xử lý vật chứng như sau:

  • + Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 81H1-145.96, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám của ông Đinh Đ bị Đinh N2, Đinh T2 trộm cắp bán cho vợ chồng Phạm Văn T4Đinh Thị S1. Sau khi biết xe mô tô trên do Đinh N2, Đinh T2 trộm cắp mà có nên ngày 17/6/2024, chị S1 đã tự nguyện giao nộp xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của ông Đinh Đ nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho ông Đ. Ông Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
  • + Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 81H1-289.66, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xanh-xám của ông Đinh G bị Đinh N2, Đinh T2 trộm cắp vào ngày 05/6/2024 và bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K đã tiến hành điều tra, xác minh, truy tìm nhưng đến nay vẫn chưa truy thu được. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, truy tìm để xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra, các bị cáo Đinh N2Đinh T2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 30/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Đinh N2Đinh T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đinh N2Đinh T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đinh N2Đinh T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đinh Nhel.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đinh Thây.

Xử phạt Đinh Nhel từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Xử phạt Đinh Thây từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã xử lý đúng quy định nên không đề nghị xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đinh Đ đã nhận lại tài sản là xe mô tô biển kiểm soát 81H1-145.96, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không đề nghị xem xét.

Bị hại Đinh G yêu cầu các bị cáo Đinh N2Đinh T2 phải liên đới bồi thường số tiền là 16.380.000 đồng (mười sáu triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng) giá trị xe mô tô biển kiểm soát 81H1-289.66, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xanh-xám theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện K. Các bị cáo đồng ý trả số tiền trên cho bị hại Đinh G sau khi chấp hành xong hình phạt nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo Đinh N2Đinh T2 phải liên đới trả cho bị hại Đinh G số tiền là 16.380.000 đồng (mười sáu triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn T4 và chị Đinh Thị S1 yêu cầu các bị cáo Đinh N2Đinh T2 phải liên đới trả lại số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) mà anh T4, chị S1 đã đưa cho T2 để mua xe mô tô biển kiểm soát 81H1-145.96. Các bị cáo cũng đồng ý trả lại số tiền trên cho anh T4, chị S1 nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo Đinh N2Đinh T2 phải liên đới trả cho anh Phạm Văn T4 và chị Đinh Thị S1 số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đinh N2 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm và 459.500 đồng (bốn trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đinh T2 gia đình thuộc diện hộ nghèo theo quy định và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Thây.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo Đinh T2, bà Cao Thị Mi S nhất trí với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang đã truy tố đối với bị cáo. Thống nhất với tội danh, Điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đã đưa ra. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo T2 khi nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật đã ra đầu thú; bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo, sinh sống trong vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế; bên cạnh đó các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh T2 dưới mức án thấp nhất mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe.

Về trách nhiệm dân sự: Thống nhất với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Các bị cáo trình bày là đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kbang đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập khách quan, đúng pháp luật. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Các ngày 05/6/2024 và ngày 09/6/2024, Đinh N2Đinh T2 đã lợi dụng sơ hở, thiếu cảnh giác của các chủ sở hữu, lén lút trộm cắp của ông Đinh G một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81H1-289.66, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xanh-xám và ông Đinh Đ một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81H1-145.96, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám. Tổng giá trị tài sản của hai lần trộm cắp là 23.730.000 đồng (hai mươi ba triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng). Hành vi đó của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang truy tố các bị cáo Đinh N2Đinh T2 về tội danh trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[3] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án được xác định như sau:

Đây là vụ án đồng phạm với tính chất giản đơn, khi thực hiện tội phạm giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể cho từng người. Trong đó Đinh N2 là người khởi xướng, rủ rê; bị cáo Đinh T2 tham gia với vai trò là người thực hành tích cực, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp và tìm người mua xe.

[4] Xét tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên; bị cáo Đinh N2Đinh T2 đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần đều đủ định lượng cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Đinh N2 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo. Các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Bị cáo Đinh T2 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngày 05/7/2024 đã tự thú về hành vi trộm cắp xe mô tô biển kiểm soát 81H1-289.66 của ông Đinh G trong ngày 05/6/2024 đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo. Khi nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật bị cáo đã ra đầu thú; các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế; gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo theo quy định đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Xét tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả gây ra cho xã hội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để giáo dục các bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội là điều cần thiết.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Đối với người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Phạm Văn T4 và chị Đinh Thị S1: Anh T4 và chị S1 là người đã mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81H1-145.96, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám mà các bị cáo trộm cắp được, nhưng anh T4-chị S1 không biết đó là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh T4-chị S1 là đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xác định anh T4-chị S1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với bị hại Đinh Đ đã nhận lại tài sản là xe mô tô biển kiểm soát 81H1-145.96, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với bị hại Đinh G yêu cầu các bị cáo Đinh N2Đinh T2 phải liên đới bồi thường số tiền là 16.380.000 đồng (mười sáu triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng) giá trị xe mô tô biển kiểm soát 81H1-289.66, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xanh-xám theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện K. Xét yêu cầu của ông Đinh G là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn T4 và chị Đinh Thị S1 yêu cầu các bị cáo Đinh N2Đinh T2 phải liên đới trả lại số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) mà anh T4, chị S1 đã đưa cho T2 để mua xe mô tô biển kiểm soát 81H1-145.96. Xét yêu cầu của anh Phạm Văn T4 và chị Đinh Thị S1 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Vật chứng vụ án: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Đối với quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kbang là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, do vậy được chấp nhận.

[11] Về án phí: Buộc bị cáo Đinh N2 phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và chịu 459.500 đồng án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đinh T2 gia đình thuộc diện hộ nghèo theo quy định và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh N2Đinh T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản".

[2] Về điều luật áp dụng:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đinh Nhel.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm s, điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đinh Thây.

Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 589; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Đinh N2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ chuyển tạm giam (ngày 18/6/2024).

Xử phạt bị cáo Đinh T2 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ chuyển tạm giam (ngày 18/6/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

Buộc các bị cáo Đinh N2Đinh T2 phải liên đới bồi thường cho ông Đinh G số tiền là 16.380.000 đồng (mười sáu triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng).

Buộc các bị cáo Đinh N2Đinh T2 phải liên đới trả cho anh Phạm Văn T4 và chị Đinh Thị S1 số tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

[4] Về án phí: Buộc bị cáo Đinh N2 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 459.500 đồng (bốn trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Thây.

[5] Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/9/2024), các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Kbang;
  • - Công an huyện Kbang;
  • - Chi cục THADS huyện Kbang;
  • - Các bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố các bị cáo Đinh N2 và Đinh T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger