TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ -----000----- | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------000--------- |
Bản án số: 18/2024/HSST
Ngày 24 tháng 05 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Kim N
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Khởi;
2. Ông Lê Văn Đỗ .
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Minh Hòa - Cán bộ TAND huyện Tam Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy T - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thanh H; Sinh ngày 06/02/2004; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lê Văn S, sinh năm 1972; Mẹ đẻ: Ngô Thị H1, sinh năm 1977; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P. (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh: Bùi Trịnh C, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 35 phút ngày 23/01/2024 tại lề đường quốc lộ 32 thuộc khu B xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Công an huyện T kiểm tra bắt quả tang Lê Thanh H, sinh năm 2004 ở khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: 01 bao thuốc lá bên trong bao thuốc lá có chứa 02 viên nén màu trắng không rõ hình dạng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0915.322.xxx. Tổ công tác của Công an huyện T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và dẫn giải đối tượng về trụ sở Công an huyện T để làm việc.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của H. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, tài sản gì liên quan đến ma túy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy đối với vật chứng thu giữ của Lê Thanh H. Tại bản Kết luận giám định số 163/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:
“- 02 viên nén màu trắng, không rõ hình dạng trong Bì niêm phong gửi đến giám định là chất ma tuý, có khối lượng là 0,704 gam, loại: MDMA
* MDMA: Số thứ tự 11, Danh mục IB, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.”
Tại cơ quan điều tra, Lê Thanh H khai nhận: Do có quen biết và được bạn bè giới thiệu nên buổi sáng ngày 22/01/2024 Lê Thanh H đã liên lạc với tài khoản Facebook tên Ư (H không nhớ tên cụ thể) để hỏi mua 04 viên ma túy tổng hợp để bán. Người này đồng ý bán với giá 800.000 đồng và cho H số tài khoản để thanh toán. H thỏa thuận sẽ chuyển trước 500.000 đồng và nợ lại 300.000 đồng khi nào bán được sẽ trả sau, Ư đồng ý. Sau đó, H chuyển khoản 500.000 đồng đến số tài khoản MB số 0357181998 do Ư cung cấp. Sau khi nhận được tiền, người đàn ông gọi điện bảo H đi ra khu vực gốc cây gần chỗ H làm tại huyện P, thành phố Hà Nội để lấy ma túy. Tại đây, H lấy được 04 viên ma túy có đặc điểm là viên nén màu trắng, không rõ hình dạng. Sau khi lấy được ma túy, H đi về nhà tại khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, khi H đang đi chơi tại khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì gặp Bùi Trịnh C, sinh năm 2005 ở khu F, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Do có quen biết từ trước nên khi gặp nhau, C hỏi “Có kẹo không, để cho bạn 02 viên”, H hiểu là ma túy tổng hợp và đang có sẵn nên đồng ý bán 02 viên với giá 700.000 đồng. C đồng ý và đưa cho H 700.000 đồng, H cầm tiền rồi đưa lại cho C 02 viên ma túy. Đến 00 giờ 35 phút ngày 23/01/2024 khi H đang đứng tại lề đường quốc lộ 32 thuộc khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang.
Căn cứ lời khai của Lê Thanh H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã triệu tập làm việc đối với Bùi Trịnh C, sinh năm 2005 ở khu F, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình làm việc, Bùi Trịnh C đã khai nhận hành vi mua ma túy, phù hợp với lời khai của H. Sau khi mua được ma túy, H đã đem về nhà và sử dụng hết cho bản thân.
Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Lê Thanh H và Bùi Trịnh C. Kết quả: H âm tính với ma túy, C dương tính với ma túy (MDMA).
Vật chứng vụ án cần được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông tạm giữ để chờ xử lý cùng vụ án gồm:
- 0,519 gam ma túy loại “MDMA” (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 vỏ bao thuốc lá;
- 01 chiếc điện thoại di động (Có đặc điểm như biên bản thu giữ).
Tại bản cáo trạng số: 17/CT-VKSTN ngày 20 tháng 04 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo: Lê Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện viện kiểm sát nhân dân huyên Tam Nông thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Về hình phạt chính:
- Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Lê Thanh H từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản, thu nhập.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 0,519 gam ma túy loại “MDMA” (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 vỏ bao thuốc lá; 01 thẻ sim điện thoại;
- - Tịch thu để bán sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động (thu giữ của H) là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
- - Truy thu của Lê Thanh H số tiền 700.000 đồng là tiền bán ma túy cho Bùi Trịnh C.
Về trách nhiệm dân sự: Không
Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi, vi phạm pháp luật nh cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố: Hồi 00 giờ 35 phút ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại lề được quốc lộ C thuộc khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ Lê Thanh H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,704 gam chất ma túy loại “MDMA” nhằm mục đích để bán kiếm lời, đã bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T, phát hiện bắt quả tang.
Ngoài ra, khoảng 23 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, tại khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Lê Thanh H còn có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Bùi Trịnh C 02 viên kẹo loại “MDMA” với giá 700.000 đồng.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; L khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Vật chứng vụ án và các tài liệu khác lập lưu trong hồ sơ.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo không tranh luận và bào chữa gì cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Khoản 1, Điều 251, Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3] Xét thấy tính chất vụ án là thuộc trờng hợp tội phạm nghiêm trọng vì ma tuý trực tiếp đầu độc hệ thần kinh của người sử dụng, ảnh hưởng đến sức khoẻ, giống nòi, gây ra các tệ nạn xã hội khác, làm mất trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo biết chất ma túy Nhà nước cấm dưới mọi hình thức nhưng bị cáo cố tình bán ma túy để kiếm lời. Vì vậy với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thấy cần thiết phải có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo nhận ra tội lỗi và sửa chữa trở thành người công dân có ích cho gia đình và cho xã hội như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Lê Thanh H chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại cơ quan điều tra bị cáo Lê Thanh H tự giác khai báo ra hành vi bán trái phép chất ma túy cho Bùi Trịnh C nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự thú. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự là phạt tiền đối với bị cáo nhng qua xác minh tại cơ quan điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh H không có tài sản, không có việc làm ổn định nên không xác định được thu nhập. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Đối với Bùi Trịnh C, sau khi mua ma túy của Lê Thanh H đã đem về nhà để sử dụng hết cho bản thân. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Trịnh C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy xét thấy là phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với người đàn ông tên “Ung” đã bán ma túy cho H, và cung cấp cho H số tài khoản ngân hàng M (theo lời khai của H), Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ chủ tài khoản là Đỗ Kim U1, sinh năm 1998 ở xã L, huyện P, thành phố Hà Nội, đến nay Cơ quan điều tra chưa triệu tập làm việc được với U1. Quá trình xác minh xác định U1 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và chính quyền địa phương không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định truy tìm người đối với Đỗ Kim U1 và quyết định tách hành vi: “Mua bán trái phép chất ma túy” của U1 và tài liệu liên quan trong vụ án trên để tiếp tục xác minh làm rõ hành vi vi phạm và xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng:
- + Đối với: 0,519 gam ma túy loại “MDMA” (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 vỏ bao thuốc lá; 01 thẻ sim điện thoại là vật chứng của vụ án là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy là phù hợp.
- + Đối với: 01 (một) chiếc điện thoại di động là công cụ sử dụng vào việc phạm tội (thu của bị cáo H). Là vật chứng dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.
- + Đối với: Số tiền 700.000đồng là tiền H bán ma túy cho C nhưng đã tiêu sài hết, cần truy thu nộp ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
I.Căn cứ: khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/01/2024.
+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
II. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu và tiêu hủy: 0,519 gam ma túy loại “MDMA” (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 vỏ bao thuốc lá; 01 thẻ sim điện thoại;
- - Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước của bị cáo H: 01 (một) thoại di động là công cụ sử dụng vào việc phạm tội. (có đặc điểm như biên bản thu giữ);
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2024 giữa Công an huyện Tam Nông và Chi cục T1 hành án dân sự huyện Tam Nông).
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với bị cáo H: Số tiền 700.000đồng (là tiền H bán ma túy cho C nhưng đã tiêu sài hết).
III. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Khoản 1, điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Buộc bị cáo Lê Thanh H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Áp dụng điều 26 Luật thi hành án dân sự, bị cáo tự nguyện thi hành án, phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7a, điều 9 Luật thi hành án dân sự.
IV. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án, để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Phùng Thị Kim N |
Bản án số 18/2024/HSST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 18/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán TP chất ma túy
