Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày: 24 – 04 – 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Khánh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Luyến và ông Lưu Xuân Vĩnh .
  • Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 04 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Thành L, sinh ngày 09/12/1977 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú và chỗ ở thường xuyên: số A, đường L, Phường C, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở khác: số D, ấp C, phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thành B, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị Ú; có vợ tên Phan Võ Bích T, sinh năm 1983 và có 02 người con, sinh năm 2011 và sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985, nơi đăng ký thường trú: xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký tạm trú: khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Đã chết.

Người đại diện hợp pháp của bị hại chị Nguyễn Thị T1: ông Phạm Quang L1, sinh năm 1967; nơi cư trú: xóm E, khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH D; trụ sở tại: số B, đường Đ, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH D: bà Võ Thị S, sinh năm 1961, nơi cư trú: trụ sở tại: số B, đường Đ, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi liên quan: Cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 14/12/2020, nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Minh K: anh Nguyễn Thành L2, sinh năm 1987; nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Ông Phạm Hồng V, sinh năm 1970, nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.
  • + Chị Nguyễn Thị Xuân A, sinh năm 1986, nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo, tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, đề nghị:

Vào khoảng 07 giờ 31 phút ngày 30/7/2023, bị cáo Phan Thành L có giấy phép lái xe hạng E, điều khiển xe ô tô khách 47 chỗ, biển số 51B-266.99, lưu thông trên đường ĐT720 theo hướng từ xã G đi xã G. Khi đến đoạn thuộc khu phố L, thị trấn L, bị cáo nhìn thấy phía trước cùng chiều, cách khoảng 30m, có một xe mô tô biển số 86K6-2409 do Nguyễn Thị T1 điều khiển chở theo cháu Nguyễn Minh K, đang chuyển hướng qua đường từ lề phải sang lề trái theo hướng từ xã G đi xã G. Do không làm chủ được tốc độ, bị cáo đạp phanh, đánh lái lấn sang phần đường bên trái, dẫn đến phần đầu phía trước xe ô tô 51B – 266.99 tông vào bên trái xe mô tô 86K6 – 2909, gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm chị Nguyễn Thị T1 tử vong trên đường đi cấp cứu, cháu Nguyễn Minh K bị thương tích nhẹ, xe mô tô biển số 86K6-2409 bị hư hỏng, xe ô tô biển số 51B-266.99 bị nứt kính và móp phần đầu xe.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 948/KLGĐTT-PC09 ngày 20/08/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận về nguyên nhân chị Nguyễn Thị T1 tử vong như sau:

“1. Các kết quả chính:

  • - Chấn thương sọ não: Vùng đỉnh chẩm phải có vết thương toác da bờ mép nham nhỏ, mở rộng vết thương: Tổ chức dưới da bầm dập lan tỏa; nứt xương sọ đỉnh chẩm phải dài 3,5cm, máu loãng chảy qua khe nứt liên tục. Xuất huyết não.
  • - Hằn trầy xước rách da tại các bộ phận trên cơ thể.

2. Kết luận:

  • - Nguyên nhân chết: Shock chấn thương nặng không hồi phục do chấn thương sọ não.
  • - Nồng độ cồn (E) trong máu: 2,58mg/100ml”.

Tại kết luận giám định số 947/KL-KTHS, ngày 15/8/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

“Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông trên đường Đ:

  1. Xe ô tô khách biển số 51B-266.99 va chạm với xe mô tô biển số 86K6- 2409 tại phần đường bên phải theo hướng từ xã G đi xã G.
  2. Xe ô tô khách biển số 51B-266.99 có các dấu vết va chạm: Trượt xước, rách nhựa composit màu trắng mặt ngoài cản trước bên phải, chiều hướng từ trước ra sau, trên bề mặt có bám dính chất màu xanh, tâm vết cao cách đất 70cm; móp lún kim loại, trượt xước mất sơn màu trắng mặt ngoài giữa ốp ca bin trước, chiều hướng từ trước ra sau phù hợp với các dấu vết va chạm trên xe môtô biển số 86K6-2409: Trượt xước, vỡ nhựa màu xanh rơi khỏi xe cụm đèn sau, ốp nhựa bảo vệ thân sau, cong kim loại giảm xóc sau bên trái, thanh cố định gác chân sau bên trái, trên bề mặt có bám dính chất màu trắng, chiều hướng từ trái qua phải; trượt xước kim loại bám dính chất màu trắng mặt ngoài phía sau đầu tay nắm lái bên trái, chiều hướng từ trái qua phải.
  3. Xe ô tô khách biển số 51B-266.99 di chuyển trên đường theo hướng từ xã G đi xã G.
  4. Xe mô tô biển số 86K6-2409 di chuyển trên đường theo hướng từ phần đường bên trái qua phần đường bên phải, phía trước xe ô tô khách biển số 51B- 266.99 (theo hướng khám nghiệm từ xã G .....?.......đi xã G)”.

Tại Kết luận giám định số 1004/KL-KTHS, ngày 18/8/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

“a. Tại thời điểm giám định xe mô tô biển số 86K6-2409:

  1. Phát hiện hệ thống đèn chiều sáng, đèn tín hiệu phía trước và sau hai bên vỡ, không hoạt động.
  2. Dấu vết hư hỏng hiện tại trên hệ thống đèn được hình thành do xe va chạm vào các chường ngại vật khi xảy ra tai nạn giao thông.

  3. Hệ thống phanh bánh trước phát hiện hư hỏng: Tay phanh gãy, mất hiệu lực khi phanh.
  4. Dấu vết hư hỏng hiện tại trên hệ thống phanh bánh trước được hình thành do xe va chạm vào các chường ngại vật khi xảy ra tai nạn giao thông.

    Hệ thống phanh bánh sau lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, còn hiệu lực phanh.

  5. Hệ thống lái đẩy lệch, mất hiệu lực khi lái.
  6. Dấu vết hư hỏng hiện tại trên hệ thống lái được hình thành do xe va chạm vào các chường ngại vật khi xảy ra tai nạn giao thông.

b. Tại thời điểm giám định xe biển số 51B-266.99:

  1. Hệ thống lái thuộc lái có trợ lực lắp đặt đầy đủ, đúng vị trí kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng.
  2. Hệ thống phanh chính thuộc loại phanh khí nén có trợ lực lắp đặt đầy đủ, đúng vị trí kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng, có hiệu lực phanh.
  3. Hệ thống phanh tay (Phanh đỗ) có các cụn chi tiết lắp đặt đúng vị trí, kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng, có hiệu lực khi phanh.

  4. Các đén chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước và phía sau hei bên lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, còn hoạt động”.

Tại Kết luận giám định số 1005/KL-KTHS, ngày 18/8/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận như sau: “Không đủ cơ sở kết luận tốc độ xe ô tô biển số 51B-26699 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông”.

Tại công văn số: 692/PC09 ngày 11/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B cung cấp kết quả trích xuất dữ liệu hành trình của xe ô tô biển số 51B-26699 như sau:

  • “- Thiết bị giám sát hành trình tích hợp camera VG07 có chứa dữ liệu video hiển thị tốc độ và quãng đường trên thẻ nhớ gắn kèm trong khoảng thời gian xảy ra va chạm (có file video được trích xuất kèm theo).
  • - Hình ảnh hiển thị camera phía trước xe có vật lạ che khuất tầm nhìn, không thể hiện được diễn biến tai nạn (có bản ảnh kèm theo)”.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSND-TL ngày 11/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Phan Thành L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh khẳng định Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thành L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phan Thành L mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Phan Thành L và bà Võ Thị S đã liên đới bồi thường thiệt hại cho bên bị hại chị Nguyễn Thị T1 tổng số tiền là 120.000.000đồng. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại chị Nguyễn Thị T1 là ông Phạm Quang L1 và người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Minh K là anh Nguyễn Thành L2 đều không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không xét xử giải quyết.

[3] Về vật chứng:

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu 3-2 AUTO, biển số 51B-266.99, số máy WP10.336N*1617C029985*, số khung RMYY6U8WPH9201861 và 01 chiếc xe mô tô hiệu Suzuki, biển số 86K6-2409, số máy E435VN106559, số khung RLSBE4AA030106559. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe ô tô nêu trên cho đại diện chủ sở hữu – bà Võ Thị S và trả lại xe mô tô nêu trên cho người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu – ông Phạm Quang L1. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý các vật chứng này.

[4] Ý kiến của bị cáo, bị hại:

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi liên quan đều thống nhất với tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; không có ý kiến tranh luận; đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo có điều kiện làm việc, chăm sóc nuôi dưỡng các con chưa thành niên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, những người làm chứng ông Phạm Hồng V, chị Nguyễn Thị Xuân A vắng mặt không có lý do, nhưng những người này đều đã trình bày lời khai đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định xét xử vắng mặt những người này là phù hợp.

[2]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai thắc mắc, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó hoạt động tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.

[3] Về thẩm quyền giải quyết:

Bị cáo bị truy tố về tội “Vi pham quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), có mức hình phạt cao nhất đến 05 năm tù, là thuộc tội phạm nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tội phạm được thực hiện trên địa bàn huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[4] Về định tội danh; tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:

[4.1] Về định tội danh:

Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án; do đó có đủ căn cứ xác định bị cáo đã thực hiện hành vi như sau: Khoảng 07 giờ 31 phút, ngày 30/7/2023, bị cáo Phan Thành L có giấy phép lái xe hạng E, điều khiển xe ô tô khách 47 chỗ, biển số 51B-266.99, lưu thông trên đường ĐT720 theo hướng từ xã G đi xã G. Khi đến đoạn thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; bị cáo phát hiện thấy phía trước cùng làn đường, cách xe bị cáo khoảng 30m, có một xe mô tô biển số 86K6-2409 do Nguyễn Thị T1 điều khiển chở theo cháu Nguyễn Minh K, đang lưu thông cùng chiều với xe bị cáo và đang chuyển hướng qua đường từ lề phải sang lề trái; bị cáo đạp phanh, đánh lái chuyển hướng sang trái để tránh né, dẫn đến phần đầu phía trước xe ô tô biển số 51B-266.99 va chạm vào phần bên trái xe mô tô biển số 86K6 – 2909 tại phần đường bên trái theo hướng từ xã G đi xã G, gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm chị Nguyễn Thị T1 bị tử vong trên đường đi cấp cứu, cháu Nguyễn Minh K bị thương tích nhẹ, xe ô tô biển số 51B-266.99 và xe mô tô biển số 86K6-2909 bị hư hỏng.

Bị cáo Phan Thành L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thế nhưng do thiếu quan sát, không làm chủ được tốc độ, không xử lý tốt tình huống; bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người khác; điều khiển xe ô tô biển số 51B-266.99 tham gia giao thông đi không đúng làn đường, phần đường quy định, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe đi liền trước, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ, làm cho chị Nguyễn Thị T1 bị chết, gây thương tích nhẹ cho cháu Nguyễn Minh K. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân huyện T, tỉnh Bình Thuận truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[4.2] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội trong trường hợp bị hại cũng có phần lỗi, điều khiển xe mô tô chuyển hướng qua đường không đảm bảo an toàn, vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ; do đó, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4.3] Về quyết định hình phạt:

Hành vi bị cáo đã thực hiện làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn công cộng tại địa phương; gây bất bình, hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh theo quy định của pháp luật để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51, 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; chỉ vì một thời điểm vô ý, thiếu quan sát, bị cáo nhất thời phạm tội; bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi dưỡng 02 người con chưa thành niên, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều đề nghị không cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để cho bị cáo có điều kiện làm việc, chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Hơn nữa, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội; việc cho bị cáo được hưởng án treo cũng không làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đồng thời cho bị cáo có điều kiện làm việc, tạo thu nhập để nuôi dưỡng 02 người con còn nhỏ. Do đó, cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Phan Thành L và bà Võ Thị S đã liên đới bồi thường thiệt hại cho bên bị hại chị Nguyễn Thị T1 tổng số tiền là 120.000.000đồng. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại chị Nguyễn Thị T1 là ông Phạm Quang L1 và người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Minh K là anh Nguyễn Thành L2 đều không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không xét xử giải quyết.

[6] Về vật chứng:

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu 3-2 AUTO, biển số 51B-266.99, số máy WP10.336N*1617C029985*, số khung RMYY6U8WPH9201861 và 01 chiếc xe mô tô hiệu Suzuki, biển số 86K6-2409, số máy E435VN106559, số khung RLSBE4AA030106559. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại các vật chứng này cho người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; do đó Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý.

[7]. Về án phí:

Cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: xử buộc bị cáo Phan Thành L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh:

Căn cứ vào Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Phan Thành L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2]. Về hình phạt:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Phan Thành L 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án – Ngày 24/04/2024.

Giao bị cáo Phan Thành L cho Ủy ban nhân dân Phường C, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phan Thành L cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Phan Thành L phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

[3]. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phan Thành L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên tòa đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án - Ngày 24/04/2024; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đều được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - NĐDHP của bị hại;
  • - Người có QL, NV liên quan;
  • - NĐDHP của người có QL, NV liên quan;
  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CQCSĐT CA.huyện Tánh Linh;
  • - CQ THAHS CA H. Tánh Linh;
  • - NTG CA huyện Tánh Linh;
  • - UBND Phường C, quận A, TP.HCM;
  • - Sở TP tỉnh Bình Thuận;
  • - CC THADS H.Tánh Linh (khi án có HLPL);
  • - THAHS TAND H.Tánh Linh (khi có HLPL);
  • - Lưu án văn VP, lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thành L phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger