Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUAN HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày: 24-04-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hùng, ông Nguyễn Văn Mừng

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông La Văn Trình - Kiểm sát viên.

Vào ngày 24 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 04 năm 2024 đối với các bị cáo:

1, TƯỞNG VĂN BA - Sinh năm 1983; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã H, huyện C, TP Hà Nội; Nơi ở hiện tại: bản P, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 11/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tưởng Văn G và bà Hoàng Thị V (đều sinh năm 1949 và có địa chỉ: thôn T, xã H, huyện C, TP Hà Nội). Vợ là Phạm Thị X (đã ly hôn) và 02 con, lớn nhất sinh năm 2006 nhỏ nhất sinh năm 2012.

Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/04/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không đăng kí ngành nghề, đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho người khác vay tiền vượt quá lãi xuất theo quy định theo Quyết định số 532/QĐ-XPHC. Số tiền phạt là: 15.000.0000đ (mười lăm triệu đồng). Bị cáo bị tạm giữ hình sự 09 ngày (kể từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/10/2023); sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương (có mặt tại phiên tòa);

2, HÀ THỊ DỪA - Sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: bản

2

Pượn, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12. Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn N và bà Lò Thị K (đều đã chết). Chồng là Lý Trần B, sinh năm 1964 và 02 con, lớn nhất sinh năm 1993 nhỏ nhất sinh năm 2004

Tiền án,Tiền sự: Không; Bị cáo là Đảng viên Đ1; đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 68-QĐ/UBKTHU ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Quan Hóa; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/12/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương (có mặt tại phiên tòa);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Thị Đ, sinh năm: 1975 (Vắng mặt có lý do). Địa chỉ: bản C, xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng: Chị Lại Thị M, sinh năm: 1987 (Vắng mặt có lý do); Anh Lò Văn D, sinh năm: 1989 (vắng mặt không có lý do). Đều có địa chỉ: bản P, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09 tháng 10 năm 2023, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Q tiếp nhận Đơn trình báo của chị Hà Thị Đ (địa chỉ: bản C, xã H, huyện Q) với nội dung: Do có quan hệ quen biết, vào ngày 12/12/2022, chị Đ có hỏi vay với chị Hà Thị D1 (sinh năm: 1976 - địa chỉ: bản P, xã T) số tiền là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng). Chị D1 nói là sẽ đi vay hộ chị Đ với một người đàn ông tên là Ba với lãi xuất 7.000đ/triệu/ngày. Cùng ngày, chị D1 thông báo với chị Đ là đã vay được tiền và chuyển khoản cho chị Đ số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng)

Chị Đ trả lãi cho chị D1 từ thời điểm vay đến khoảng tháng 02/2023, do thấy lãi xuất quá cao, nên chị Đ gọi điện thoại xin chị D1 giảm tiền lãi còn 5.000đ/triệu/ngày và chị D1 đồng ý. Ngày 30/05/2023, chị D1 đến nhà chị Đ yêu cầu viết giấy vay tiền với nội dung tiền gốc và lãi xuất như trên; thời hạn vay đến ngày 30/08/2023 chị Đ phải trả đủ số tiền gốc và lãi cho chị D1.

Chị Đ đã trả số tiền lãi cho chị D1 nhiều lần; tổng cộng số tiền là 53.900.000đ (năm mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng). Do đó, chị Đ trình báo Cơ quan Công an đề nghị xem xét, xử lý hành vi cho vay lãi nặng của Hà Thị D1.

Ngày 10/10/2023, anh Tưởng Văn B1 (sinh năm: 1983 - trú tại: bản P, xã T, huyện Q) ra đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q. Tại Đơn đầu thú và lời khai trong quá trình điều tra, Tưởng Văn B1 thống nhất trình bày: Do có quan hệ quen biết, nên B1 có cho D1 vay tiền hai lần, cụ thể:

3

1, Lần thứ nhất: Khoảng tháng 09/2022; bị cáo D1 có hỏi vay bị cáo B1 số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), lãi xuất thỏa thuận là 2%/tháng. Đến khoảng tháng 09/2023, D1 đã trả đủ số tiền gốc và lãi theo thỏa thuận cho Ba.

2, Lần thứ hai: Vào ngày 12/12/2022, D1 đến nói với B1 vay hộ tiền cho người bạn; số tiền vay là 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng). Lãi xuất thỏa thuận là 5.000đ/triệu/ngày. Khoản vay không xác định thời hạn; đến khi nào Dừa trả đủ gốc và lãi với Ba thì chấm dứt. Nếu tháng nào D1 chưa trả được tiền thì Ba sẽ nợ lại và yêu cầu trả vào tháng sau. Dừa đã trả tiền lãi cho Ba nhiều lần, cụ thể:

  • + Ngày 17/01/2023, D1 đưa 9.000.000đ (chín triệu đồng) tiền mặt cho Ba tại nhà của Ba;

  • + Khoảng tháng 04/2023, D1 trả cho B1 số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng);

  • + Ngày 08/06/2023, D1 trả cho Ba số tiền 6.600.000đ (sáu triệu sáu trăm nghìn đồng); trong đó có 6.000.000đ (sáu triệu đồng) là tiền lãi của khoản vay 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng), còn 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) là tiền lãi của khoản vay 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Dừa chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng của Lại Thị M là bạn của Ba;

  • + Khoảng tháng 07/2023, D1 trả cho B1 số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng). Ba không nhớ rõ là chuyển khoản hay đưa tiền mặt;

  • + Ngày 31/08/2023, D1 chuyển khoản cho B1 số tiền 13.800.000đ (mười ba triệu tám trăm nghìn đồng).

  • + Ngày 19/09/2023, D1 chuyển khoản cho Ba số tiền 30.800.000đ (ba mươi triệu tám trăm nghìn đồng); trong đó có 30.600.000đ (ba mươi triệu sáu trăm nghìn đồng) là tiền lãi và gốc tất toán cho khoản vay từ tháng 09/2022; còn 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là tiền lãi của khoản vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng)

Ba trình bày tổng số tiền lãi Ba thu được từ Dừa là 41.000.000đ (bốn mươi mốt triệu đồng). Ba khai mục đích chỉ là cho chị D1 vay tiền, còn B1 cũng không biết và không quan tâm đến việc chị D1 cho ai vay lại.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Thị D1 khai: Do có quan hệ quen biết, bị cáo có vay tiền với bị cáo Tưởng Văn B1 hai lần cụ thể:

1, Lần thứ nhất: Khoảng tháng 09/2022; bị cáo D1 có hỏi vay bị cáo B1 số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), lãi xuất thỏa thuận là 2%/tháng. Đến khoảng tháng 09/2023, D1 đã trả đủ số tiền gốc và lãi theo thỏa thuận cho Ba.

2, Lần thứ hai: Vào ngày 12/12/2022, chị Hà Thị Đ có đến nhờ bị cáo vay hộ số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng). Bị cáo vì muốn giúp chị Đ nên có đến nói với B1. Ba đồng ý cho vay tiền nhưng thỏa thuận là 7.000đ/triệu/ngày.

4

Bị can trao đổi lại với chị Đ và chị Đ đồng ý. Sau đó B1 đưa cho D1 số tiền mặt là 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng). Dừa nhờ anh Lò Văn D (trú tại bản Pạo, xã T) chuyển 60.000.000đ vào tài khoản của D1; sau đó Dừa chuyển khoản cho chị Đ đủ số tiền trên. Khoản vay này giữa D1 và Ba không xác định thời hạn, không có thỏa thuận miễn giảm lãi. Bị cáo đã trả lãi cho Ba nhiều lần, bằng hình thức trực tiếp hoặc chuyển khoản qua tài khoản của B1 và chị Lại Thị M. Tổng cộng số tiền lãi bị cáo đã trả cho B1 là: 72.840.000đ (bảy mươi hai triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).

Đối với quá trình trả lãi, thỏa thuận về giảm lãi, gia hạn khoản vay; bị cáo D1 thống nhất với lời khai của chị Đ nêu trên. Bị cáo khai khi thỏa thuận với chị Đ về lãi xuất, thỏa thuận về giảm lãi, thời hạn vay đều có sự đồng ý của bị cáo B1. Bị cáo trình bày mục đích của mình chỉ là muốn giúp chị Đ, không có mục đích thu lời bất chính nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị Đ trình bày: Thống nhất với lời khai của bị cáo D1. Đối với số tiền gốc, chị đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với số tiền khắc phục hậu quả: Chị Đ trình bày bị cáo D1 đã hoàn trả cho chị số tiền là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) nên chị không có yêu cầu HĐXX xem xét. Chị yêu cầu bị cáo B1 hoàn trả số tiền lãi thu được vượt quá lãi xuất theo Bộ luật dân sự cho chị theo quy định của pháp luật.

Những người làm chứng chị Lại Thị M và anh Lò Văn D trình bày: Chị M và anh D chỉ là người được bị cáo B1 và bị cáo D1 nhờ chuyển tiền, nhận tiền qua tài khoản. Anh chị không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo

Vật chứng của vụ án gồm có:

  • + 01 USB màu đen, dung lượng 4GB, lưu trữ 01 file định dạng .mp4 “hỏi cung bị can Hà Thị D1 (30.01.2024)” được chứa trong 01 phong bì do Bưu điện phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ kí ghi rõ họ tên: Đào Xuân G1, La Văn T, Hà Thị D1 và các hình dấu của Cơ quan CSĐT- Công an huyện Q. Hiện đang được bảo quản trong hồ sơ vụ án

  • + 01 phong bì do Công an huyện Q phát hành, được niêm phong bởi chữ kí ghi rõ họ tên: Đào Xuân G1, Ngân Thị C, Lại Thị M và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q; chứa số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) do người nhà của Tưởng Văn B1 nộp khắc phục hậu quả. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa;

  • + Số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) do Hà Thị D1 tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả theo Biên lai thu số BLTT/23/0002967 ngày 08/04/2024. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa;

5

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSQH ngày 12 tháng 03 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa truy tố các bị cáo Tưởng Văn B1, Hà Thị D1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Tưởng Văn B1, Hà Thị D1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

Áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 BLHS đối với các bị cáo. Áp dụng thêm Điều 36 BLHS đối với Tưởng Văn B1; áp dụng Điều 35 BLHS 2015 đối với Hà Thị D1.

Xử phạt: Bị cáo Tưởng Văn B1 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian tạm giữ; Phạt tiền Bị cáo Hà Thị D1 số tiền từ 60.000.000 đến 80.000.000 đồng

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 BLTTHS, xử lý như sau:

  • + 01 USB màu đen, dung lượng 4GB, lưu trữ 01 file định dạng .mp4 “hỏi cung bị can Hà Thị D1 (30.01.2024)” được chứa trong 01 phong bì do Bưu điện phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ kí ghi rõ họ tên: Đào Xuân G1, La Văn T, Hà Thị D1 và các hình dấu của Cơ quan CSĐT- Công an huyện Q. Đây là dữ liệu điện tử thể hiện kết quả ghi âm, ghi hình khi lấy lời khai với bị cáo nên tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

  • + Đối với số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) do người nhà của Tưởng Văn B1 nộp khắc phục hậu quả chứa trong 01 phong bì do Công an huyện Q phát hành, được niêm phong bởi chữ kí ghi rõ họ tên: Đào Xuân G1, Ngân Thị C, Lại Thị M và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q. Xét cần tiếp tục quy trữ số tiền 41.000.000đ (bốn mươi mốt triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa để đảm bảo thi hành án. Trả lại cho bị cáo Tưởng Văn B1 số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng).

  • + Số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) do Hà Thị D1 tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả theo Biên lai thu số BLTT/23/0002967 ngày 08/04/2024. Xét cần tiếp tục quy trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa để đảm bảo thi hành án.

Về biện pháp tư pháp và vấn đề dân sự trong vụ án, đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS:

  • + Tuyên truy thu đối với chị Hà Thị Đ số tiền gốc vay là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.

6

  • + Tuyên truy thu số tiền 8.614.000đ (tám triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng) là khoản tiền phát sinh từ tội phạm đối với bị cáo Tưởng Văn B1.

  • + Tuyên Tưởng Văn B1 hoàn trả cho chị Hà Thị Đ số tiền 32.386.000đ (ba mươi hai triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn đồng)

  • + Ghi nhận bị cáo Hà Thị D1 đã hoàn trả cho chị Hà Thị Đ số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng). Do chị Đ không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với khoản vay 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) mà Hà Thị D1 vay của Tưởng Văn B1 với lãi suất 2%/tháng. Mức lãi xuất chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự; nên Chủ tịch UBND huyện Q ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tưởng Văn B1 là đúng quy định.

Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; trong phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến gì. Do đó, mọi quyết định tố tụng, hành vi tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đều hợp pháp.

[2] Xét diễn biến của hành vi phạm tội:

[2.1] Bị cáo Tưởng Văn B1 trình bày chỉ cho bị cáo D1 vay tiền, Ba không biết và không liên quan đến việc D1 cho chị Hà Thị Đ vay lại. Do đó, hành vi phạm tội của D1 với chị Hà Thị Đ là độc lập với hành vi của Ba. Lời khai này là không có cơ sở, bởi các lẽ:

  • + Bị cáo D1 khai: “....Khoảng đầu tháng 12/2022. Do cần tiền nên chị Hà Thị Đ...đã nhờ tôi vay tiền giúp...Tôi đến nhà anh Tưởng Văn B1 để hỏi vay tiền từ anh B1, anh B1 đồng ý....Sau đó anh B1 đưa trực tiếp cho tôi số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng). Tôi nhờ anh Lò Văn D chuyển tiền vào tài khoản của tôi...sau đó tôi sử dụng tài khoản này để chuyển tiền cho chị Đ...” (B1 131). Lời khai trên phù hợp với lời khai của bị cáo B1 về ngày vay, ngày Ba

7

trực tiếp đưa tiền mặt 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) cho D1; phù hợp với lời khai của chị Hà Thị Đ, anh Lò Văn D và các chứng cứ là giao dịch chuyển tiền giữa anh Lò Văn D với Hà Thị D1 (Bl 172). Từ đó, đủ căn cứ khẳng định có việc vào ngày 12/12/2022, Tưởng Văn B1 đưa cho Hà Thị D1 số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) và sau đó D1 chuyển số tiền này cho chị Hà Thị Đ. Số tiền D1 cho chị Đ vay có nguồn gốc từ số tiền Dừa nhận của Ba.

  • + Tại Đơn trình báo (B1 01), chị Đ trình bày: “…Vào ngày 12/12/2022, tôi hỏi vay số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) với chị D1, thì chị D1 nói sẽ đi vay hộ cho tôi với người đàn ông tên “Ba” ở T...”. Điều này chứng minh ngay từ khi hỏi vay tiền, bị cáo D1 đã trao đổi với chị Đ về nguồn gốc số tiền vay là từ bị cáo B1.

  • + Bị cáo B1 có nhiều lời khai thể hiện: “...khi D1 hỏi vay tiền với bị can, chị D1 có nói là vay hộ cho bạn đảo số ngân hàng...” (bl 108b). “...chị D1 đến hỏi tôi vay hộ tiền cho bạn...” (bl 221). Ngoài ra, trong nội dung tin nhắn zalo giữa hai bị cáo, bị cáo D1 có chụp ảnh tin nhắn giữa D1 và Đ gửi cho Ba; trong đó có cả tên tài khoản zalo là “chị Điện Hiền K1” (bl 39) nhưng Ba không có phản đối. Điều này chứng minh ngay từ đầu và trong suốt quá trình vay, B1 biết rõ việc D1 dùng số tiền của mình để cho chị Đ vay lại.

  • + Tin nhắn zalo thể hiện (bl 19): Dừa nhắn: “Sang tuần chị trả chú được 30 triệu phần chú giúp chị. Còn lại phần chị kia đang chờ bán được nhà mới có tiền trả chú” Ba đáp: “Vâng”. Điều này chứng minh ý chí của Ba chấp nhận việc cho chị Đ khất nợ. Ngoài ra tin nhắn vào ngày 28/09/2023 của B1 cũng thể hiện: “Chị bảo người ta thu xếp cho em đi” (Bl 13) cũng thể hiện ý chí của Ba muốn tác động đến Dừa để nhắc nợ với chị Đ.

  • + Ngày 08/06/2023 (bl 34): Dừa nhắn: “Chị ấy gửi tạm được 6 triệu tiền lãi đây rồi chú” Ba nhắn lại: “Chị xem thế nào chứ bảo chuyển 2 tháng mà lại chuyển có 6 triệu”. Chứng minh việc Ba biết rõ việc D1 cho Đ vay lại nhằm mục đích lấy lãi cao; Ba không chỉ mong muốn, mà còn có hành động tích cực (liên tục nhắn tin đòi nợ) để thúc đẩy hậu quả (là việc chị Đ trả lãi) xảy ra.

  • + Ngoài ra, tại thời điểm Ba cho D1 vay số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) với lãi xuất 5.000đ/triệu/ngày, thì đồng thời D1 cũng đang vay Ba số tiền 30.000.000đ, với lãi xuất 2%/tháng. Nội dung tin nhắn zalo của Dừa ngày 26/08/2023 (bl 22) thể hiện: “Chị gửi tiền lãi phần của chị (600.00₫)”. Ngày 08/09/2023 (bl 19) thể hiện: Dừa nhắn: “Sang tuần chị trả chú được 30 triệu phần chú giúp chị. Còn lại phần chị kia đang chờ bán được nhà mới có tiền trả chú” Ba đáp: “Vâng”. Điều này chứng minh hai bị cáo đều biết và phân biệt rõ giữa hai khoản vay: Khoản vay 30.000.000đ với Dừa có lãi xuất thấp do chị em quen biết nhau, và khoản vay 60.000.000đ Dừa cho người khác vay lại với lãi

8

xuất cao để kiếm lời.

[2.2] Bị cáo D1 khai do muốn giúp chị Đ nên D1 chỉ là người đi vay hộ; Dừa không có hành vi cho chị Đ vay lại với mức lãi xuất cao hơn để hưởng chênh lệch; không có mục đích thu lời bất chính, mà khi nào chị Đ chuyển tiền cho bị cáo thì bị cáo chuyển lại cho Ba, thậm chí khi chị Đ chậm lãi, bị cáo tự bỏ tiền lương ra để trả cho Ba (bl 149). Lời khai này cũng không có căn cứ, cụ thể:

  • + Ba khai chỉ thỏa thuận với Dừa lãi xuất từ đầu là 5.000đ/triệu/ngày, không thay đổi trong suốt quá trình vay. Hai bị cáo chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không lập thành giấy vay; việc vay mượn không có người chứng kiến nên chỉ có căn cứ xác định mục đích thu lời bất chính của Ba theo mức lãi xuất 5.000đ/triệu/ngày.

  • + Với lời khai của Ba tổng số tiền lãi Ba thu được từ Dừa là 41.000.000₫ (bốn mươi mốt triệu đồng) phù hợp với các chứng cứ khác gồm sao kê lịch sử giao dịch, lời khai của người làm chứng Lại Thị M, và nội dung tin nhắn zalo nên có căn cứ. Với lời khai của D1 về tổng cộng số tiền lãi bị cáo đã trả cho B1 là: 72.840.000đ (bảy mươi hai triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở.

  • + Như vậy, số tiền thực tế Dừa đã nhận của chị Hà Thị Đ là 53.900.000₫ (năm mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng); nhưng chỉ chuyển cho Tưởng Văn B1 số tiền 41.000.000đ (bốn mươi mốt triệu đồng) và giữ lại 12.900.000đ (mười hai triệu chín trăm nghìn đồng). Tỉ lệ số tiền Dừa giữ lại/ tổng số tiền Dừa thu lãi của chị Đ gần tương đương với tỉ lệ 2/7 (là tỉ lệ chênh lệch lãi xuất mà Dừa dự kiến thu được). Chứng minh bị cáo D1 có mục đích cho chị Hà Thị Đ vay với lãi xuất 7.000đ/triệu/ngày để hưởng chênh lệch nhằm mục đích thu lời bất chính, và thực tế đã thu được số tiền 12.900.000đ (mười hai triệu chín trăm nghìn đồng).

  • + Ngoài ra, thực tế số tiền, thời điểm D1 nhận tiền từ chị Đ và thực tế số tiền, thời điểm D1 chuyển tiền cho B1 đều không phù hợp với nhau. Dẫn chứng như khoản tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) chị Đ chuyển khoản cho D1 vào ngày 29/08/2023 (bl 181); nhưng đến ngày 31/08/2023, D1 chỉ chuyển khoản cho Ba số tiền 13.800.000đ (mười ba triệu tám trăm nghìn đồng). Như vậy, lời khai của bị cáo rằng khi nào chị Đ chuyển tiền cho bị cáo thì bị cáo đều chuyển lại cho B1 là không đúng thực tế

[2.3] Từ những phân tích trên, đủ căn cứ khẳng định: Vào ngày 12/12/2022, chị Hà Thị Đ có nhờ bị cáo Hà Thị D1 vay số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng). Dừa sang trao đổi với Tưởng Văn B1 là vay hộ một người bạn; Ba đồng ý và thỏa thuận với D1 mức lãi xuất 5.000đ/triệu/ngày, hợp đồng vay không xác định kì hạn. Sau khi nhận tiền, D1 đã chuyển khoản cho Hà Thị

9

Đ. Dừa thỏa thuận với chị Đ lãi xuất vay là 7.000đ/triệu/ngày với mục đích hưởng lợi từ chênh lệch lãi xuất là 2.000đ/triệu/ngày. Đến hết tháng 01/2023, do không có khả năng trả lãi, nên chị Đ xin giảm lãi và D1 đồng ý giảm xuống mức 5.000đ/triệu/ngày. Đến ngày 30/05/2023, D1 và chị Đ lập Giấy vay tiền với nội dung như trên, thỏa thuận đến ngày 30/08/2023 sẽ trả đủ gốc và lãi. Số tiền lãi thực tế chị Đ đã trả cho D1 là 53.900.000đ (năm mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng). Số tiền lãi thực tế D1 đã chuyển cho Ba là 41.000.000đ (bốn mươi mốt triệu đồng) và giữ lại là 12.900.000đ (mười hai triệu chín trăm nghìn đồng)

[3] Xét vị trí, vai trò của những người đồng phạm:

[3.1] Tưởng Văn B1 biết rõ việc Hà Thị D1 hỏi số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) để cho người khác vay lại với lãi xuất cao. Bản thân Ba mong muốn được thu lời bất chính từ việc cho vay lại của D1, với mức lãi xuất dự kiến thu được là 5.000đ/triệu/ngày. Ba không chỉ có thái độ chấp nhận hậu quả, mà còn có nhiều hành vi, tin nhắn thúc đẩy, mong muốn hậu quả (là việc trả lãi cao của chị Đ) xảy ra. Do đó, cần xác định hành vi cho vay lãi nặng của hai bị cáo là hành vi liên tục, xuyên suốt, có mục đích thống nhất; thuộc trường hợp đồng phạm theo Điều 17 BLHS. Các bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm hình sự về hành vi cho vay lãi nặng với mức lãi xuất 5.000đ/triệu/ngày, trong thời hạn vay từ ngày 12/12/2022 đến hết ngày 30/08/2023

Căn cứ Điều 6 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán, TANDTC; số tiền thu lời bất chính để xử lý trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo được xác định như sau:

Thời gian từ 12/12/2022 đến ngày 30/08/2023 (262 ngày): Tổng tiền lãi các bị cáo được thu theo Điều 468 BLDS là 8.614.000đ (tám triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng); tổng tiền lãi dự kiến thu theo thỏa thuận là: 78.600.000₫ (bảy mươi tám triệu sáu trăm nghìn đồng). Số tiền thu lời bất chính là: 69.986.000₫ (sáu mươi chín triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn đồng)

[3.2] Hà Thị D1 cho chị Hà Thị Đ vay lại với mức lãi xuất 7.000đ/triệu/ngày, mục đích để hưởng lợi từ chênh lệch lãi xuất. Do đó, Hà Thị D1 phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi vượt quá của mình với mức lãi xuất (chênh lệch) là 2.000đ/triệu/ngày, trong thời gian từ ngày 12/12/2022 đến hết ngày 31/01/2023 (50 ngày). Số tiền thu lời bất chính là: 6.000.000đ (sáu triệu đồng)

[3.3] Đối với việc cho vay giữa Ba và D1 không xác định thời hạn; nên Ba phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi cho vay lãi nặng của mình với mức lãi xuất là 5.000đ/triệu/ngày; trong thời gian từ ngày 31/08/2023 đến ngày tự thú 09/10/2023 (40 ngày): Số tiền lãi được thu theo Bộ luật dân sự: 1.315.000đ (một triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng). Số tiền lãi dự kiến thu

10

theo thỏa thuận: 12.000.000đ (mười hai triệu đồng). Số tiên thu lời bất chính là: 10.685.000đ (mười triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng)

[3.4] Như vậy, tổng số tiền thu lời bất chính để xử lý trách nhiệm hình sự (chung và cá nhân) đối với Tưởng Văn B1 là: 80.653.000đ (tám mươi triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn đồng); đối với Hà Thị D175.986.000đ (bảy mươi lăm triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn đồng).

[3.5] Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS. Quan điểm truy tố và luận tội của Viện Kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3.6] Các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, đều là người đồng thực hành. Nhưng số tiền vay có nguồn gốc từ Tưởng Văn B1. Quá trình vay và thu lãi; Ba có nhiều tin nhắn thúc đẩy việc thu lãi, thể hiện ý chí phạm tội rõ ràng, quyết liệt hơn Hà Thị D1. Số tiền thu lời thực tế của Ba cũng lớn hơn Hà Thị D1. Do đó, HĐXX áp dụng Điều 17, 58 BLHS khi lượng hình để xử lý Tưởng Văn Ba với mức án nghiêm khắc hơn, để đảm bảo phân hóa trách nhiệm hình sự giữa các bị cáo.

[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng, hành vi đó làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do hám lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do đó hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Đối với bị cáo Tưởng Văn B1:

  • + Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện ra đầu thú. Bị cáo đã chủ động giao nộp số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) để khắc phục hậu quả. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ lượng khoan hồng của pháp luật.

  • + Ngày 05/04/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không đăng kí ngành nghề, đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho người khác vay tiền vượt quá lãi xuất theo quy

11

định theo Quyết định số 532/QĐ-XPHC. Số tiền phạt là: 15.000.0000đ (mười lăm triệu đồng)

Theo hướng dẫn tại Mục I.12 Công văn 89/2020/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao:

“Trường hợp này, người phạm tội đang bị khởi tố, điều tra, truy tố trong một vụ án khác hoặc người phạm tội còn có hành vi phạm tội khác đã bị xét xử trong một vụ án khác là không bảo đảm điều kiện có nhân thân tốt...”

Áp dụng tinh thần của hướng dẫn trên; thì trường hợp của bị cáo không được xác định là có nhân thân tốt.

[5.2] Đối với bị cáo Hà Thị D1:

  • + Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Bị cáo đã chủ động giao nộp số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) và chủ động hoàn trả cho chị Hà Thị Đ số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) để khắc phục hậu quả. Bị cáo có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của Ban quản lý thôn bản, và Công văn đề nghị giảm nhẹ hình phạt của UBND xã T. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ lượng khoan hồng của pháp luật.

  • + Đối với các tài liệu gồm Quyết định công nhận danh hiệu lao động tiên tiến qua các năm của bị cáo (Bl 216-227): Không thuộc trường hợp người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác theo điểm v khoản 1 Điều 51, không phù hợp với tinh thần hướng dẫn tại M, Nghị quyết 01/2000/NQ- HĐTP của Hội đồng Thẩm phán nên không được HĐXX xem xét.

[6] Về hình phạt:

[6.1] Từ những căn cứ trên, cần áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 đối với các bị cáo Tưởng Văn B1, Hà Thị D1; xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mang tính răn đe, giáo dục; tạo điều kiện cho bị cáo sớm sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội.

[6.2] Bị cáo Tưởng Văn B1 là người đồng phạm có vai trò chính, thu lời thực tế với số tiền lớn hơn. Bị cáo có nhân thân xấu nên căn cứ Điều 36, 50 Bộ luật hình sự, xét cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt chính là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo

X1 thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên HĐXX miễn khoản khấu trừ thu nhập hàng tháng và không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6.3] Bị cáo Hà Thị D1 là người đồng phạm có vai trò thứ yếu, thu lời thực

12

tế với số tiền ít, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Ngoài ra, kết quả xác minh thu nhập (bl151a-151d) cho thấy bị cáo có thu nhập thường xuyên, ổn định; đủ điều kiện theo khoản 2 Điều 50 BLHS, phù hợp với nguyên tắc xử lý tại Điều 03 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán. Do đó, căn cứ Điều 35, 50 BLHS, xét cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

[7.1] Đối với khoản tiền gốc 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) bị cáo Tưởng Văn B1 sử dụng làm công cụ phạm tội, hiện Hà Thị Đ chưa trả được cho bị cáo: HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, xét cần truy thu đối với chị Hà Thị Đ để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[7.2] Số tiền gốc là tài sản của bị cáo Tưởng Văn B1, nên đối với khoản tiền lãi trong phạm vi pháp luật cho phép (dưới 20%/năm): Đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; truy thu đối với bị cáo Tưởng Văn B1 để nộp ngân sách nhà nước là 8.614.000đ (tám triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng);

[7.3] Đối với khoản tiền lãi vượt quá phạm vi pháp luật cho phép (trên 20%/năm): Đây là khoản tiền thu lời bất chính, bị cáo chiếm đoạt trái phép của những người vay, nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 BLHS, buộc bị cáo trả lại cho những người vay. Cụ thể:

  • + T1 buộc bị cáo Tưởng Văn B1 trả lại cho chị Hà Thị Đ số tiền là: 32.386.000đ (ba mươi hai triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn đồng)

  • + Số tiền lãi vượt quá phạm vị mà bị cáo D1 thực tế thu được là 12.900.000đ (mười hai triệu chín trăm nghìn đồng). Ghi nhận bị cáo đã trả lại cho chị Đ số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng). Chị Đ không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét;

[7] Về xử lý vật chứng:

  • + 01 USB màu đen, dung lượng 4GB, lưu trữ 01 file định dạng .mp4 “hỏi cung bị can Hà Thị D1 (30.01.2024)” được chứa trong 01 phong bì do Bưu điện phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ kí ghi rõ họ tên: Đào Xuân G1, La Văn T, Hà Thị D1 và các hình dấu của Cơ quan CSĐT- Công an huyện Q. Đây là dữ liệu điện tử thể hiện kết quả ghi âm, ghi hình khi lấy lời khai với bị cáo nên căn cứ khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 01/02/2018 tuyên tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

  • + Đối với số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) do người nhà của Tưởng Văn B1 nộp khắc phục hậu quả chứa trong 01 phong bì do Công an huyện Q phát hành, được niêm phong bởi chữ kí ghi rõ họ tên: Đào Xuân G1,

13

Ngân Thị C, Lại Thị M và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q. Xét cần tiếp tục quy trữ số tiền 41.000.000đ (bốn mươi mốt triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa để đảm bảo thi hành án. Trả lại cho bị cáo Tưởng Văn B1 số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng).

  • + Số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) do Hà Thị D1 tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả theo Biên lai thu số BLTT/23/0002967 ngày 08/04/2024. Xét cần tiếp tục quy trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa để đảm bảo thi hành án.

[8] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS; HĐXX tuyên hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo, kể từ ngày tuyên án.

[9] Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; áp dụng thêm Điều 36 đối với bị cáo Tưởng Văn B1, áp dụng thêm Điều 35 đối với bị cáo Hà Thị D1.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, Điều 105BLTTHS;

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125, khoản 2 Điều 135, Điều 136, Điều 331, 333 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 20/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên: Các bị cáo Tưởng Văn B1, Hà Thị D1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

2. Về hình phạt:

  • + Xử phạt bị cáo Tưởng Văn B1 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ đi 09 (chín) ngày tạm giữ, tương đương 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 08 (Tám) tháng 03 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ.

  • Giao bị cáo Tưởng Văn B1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q giáo sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

  • + Áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Hà Thị D1. Mức tiền phạt là: 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

14

3. Về xử lý vật chứng:

  • + T1 tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB màu đen, dung lượng 4GB, lưu trữ 01 file định dạng .mp4 “hỏi cung bị can Hà Thị D1 (30.01.2024)” được chứa trong 01 phong bì do Bưu điện phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ kí ghi rõ họ tên: Đào Xuân G1, La Văn T, Hà Thị D1 và các hình dấu của Cơ quan CSĐT- Công an huyện Q.

  • + T1 tiếp tục quy trữ số tiền 41.000.000đ (bốn mươi mốt triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa để đảm bảo thi hành án. Trả lại cho bị cáo Tưởng Văn B1 số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng)

Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 13/03/2024 giữa Cơ quan CSĐT- Công an huyện Q và Chi cục THADS huyện Q.

  • + T1 tiếp tục quy trữ số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) do Hà Thị D1 tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả theo Biên lai thu số BLTT/23/0002967 ngày 08/04/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa để đảm bảo thi hành án.

4. Về biện pháp tư pháp và nghĩa vụ dân sự:

  • + Tuyên truy thu đối với chị Hà Thị Đ số tiền gốc vay là 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.

  • + Tuyên truy thu đối với bị cáo Tưởng Văn B1 số tiền 8.614.000đ (tám triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng) là khoản tiền phát sinh từ tội phạm.

  • + Tuyên buộc bị cáo Tưởng Văn B1 hoàn trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị Đ số tiền 32.386.000đ (ba mươi hai triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn đồng)

  • + Ghi nhận bị cáo Hà Thị D1 đã hoàn trả cho chị Hà Thị Đ số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng). Do chị Đ không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về biện pháp ngăn chặn: Hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú áp dụng đối với bị cáo, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

6. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ

15

nội dung bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày; kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - VKSND huyện Quan Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT- CA huyện Quan Hóa;
  • - Công an huyện Quan Hóa (Đội tổng hợp);
  • - Uỷ ban Kiêm tra HU Quan Hóa;
  • - Cơ quan THADS huyện Quan Hóa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Mừng

Hoàng Văn Hùng

Ngô Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tưởng Văn Ba, Hà Thị Dừa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger