TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 18/2024/HSST Ngày: 24-4-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Huỳnh Văn Inh;
- 2/ Bà Thi Thị Thanh Trúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 02/4/2024 và Thông báo dời phiên tòa số 12/TB ngày 15/4/2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Thị Thúy L, sinh ngày 04/12/1991; nơi cư trú: Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1956; Anh chị em ruột: có 07 người (Lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 2004); chồng (Đã ly hôn); con: 01 người con, sinh năm 2013; tiền sự: Không; tiền án: 02 tiền án về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 02/2020/HSST ngày 13/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh phạt 06 tháng tù và Bản án số 50/2020/HSPT ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 09 tháng tù. Bị cáo L chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 01/9/2021. Bị cáo Nguyễn Thị Thúy L bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày từ ngày 11/10/2023 đến nay, tại xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Phạm Thị V, sinh ngày 01/01/1969; nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phạm Minh L1, sinh năm 1920 (Chết) và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1940 (Chết); Anh chị em ruột: có 04 người (Lớn nhất sinh năm 1961, nhỏ nhất sinh năm 1973); chồng: Trần Văn G, sinh năm 1967; con: 02 người con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/10/2023 cho đến nay tại xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Trần Thị T1, sinh ngày 15/8/1967; nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; con ông Trần Văn V1, sinh năm 1941 (Chết) và bà Trần Thị L3, sinh năm 1941; Anh chị em ruột: có 05 người (Lớn nhất sinh năm 1959, nhỏ nhất sinh năm 1980); chồng: Hoàng Cao K, sinh năm 1963; con: 01 người con, sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/10/2023 cho đến nay tại xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4/ Lâm Thị D1, sinh ngày 01/01/1965; nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 3/12; con ông Lâm Văn K1, sinh năm 1944 (chết) và bà Thạch Thị P, sinh năm 1944 (chết); anh chị em ruột: Có 07 người (Lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1976); chồng: Nguyễn Văn B, sinh năm 1965, con: 02 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: tốt; bị cáo bị áp dụng biện cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/10/2023 cho đến nay tại xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5/ Kim Thị L4, sinh ngày 01/01/1975; nơi cư trú: Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Đạo Phật; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 01/12; con ông Kim S, sinh năm 1937 (Chết) và bà Thạch Thị X, sinh năm 1942 (Chết); anh chị em ruột: có 02 người (Lớn nhất không rõ năm sinh, nhỏ nhất sinh năm 1973); chồng: Trần Văn P1, sinh năm 1973, con: 02 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/10/2023 cho đến nay tại xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
6/ Trần Thị Thúy V2, sinh ngày 01/01/1991; nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Trần Văn H, sinh năm 1969 (chết) và bà Ngô Thị P2, sinh năm 1971; anh chị em ruột: có 01 người, sinh năm 1996; chồng: Nguyễn Chí T2, sinh năm 1987 (Đã ly hôn), con: 01 người con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/10/2023 cho đến nay tại xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
7/ Phạm Thị D2, sinh ngày 01/01/1967; nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 3/12; con ông Phạm Văn C, sinh năm 1939 (Chết) và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1940; anh chị em ruột: có 09 người (Lớn nhất sinh năm 1962, nhỏ nhất sinh năm 1979); chồng: Quách Văn T4, sinh năm 1969; con: 02 người (Lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1994); tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/10/2023 cho đến nay tại xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 02/8/2023, Trần Thị T1, Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V và Lâm Thị D1 hẹn đến nhà Phạm Thị D2 để chơi đánh bài ăn thua bằng tiền. T1 gọi điện thoại cho D2 để hỏi mượn nhà chơi đánh bài thì D2 đồng ý. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T1 mang theo 03 bộ bài tây đến nhà D2, lần lượt Lâm Thị D1, Phạm Thị V và Nguyễn Thị Thúy L cũng đến. Tại đây D2 lấy 01 chiếc chiếu lát trãi trên nền gạch khu vực nhà sau cho T1, L, V và Dân chơi đánh bài binh Ấn độ 06 lá ăn thua bằng tiền, mức độ ăn thua mỗi ván từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng mỗi tụ. T1 làm cái ăn thua trực tiếp với 03 tụ còn lại.
Chơi khoảng 05 đến 06 ván thì Trần Thị Thúy V2 đến, V2 trực tiếp làm cái còn T1 qua ngồi chơi ké tụ của V. Sau đó có Kim Thị L4 đến tham gia chơi và ké tụ của V2. V2 và L thay phiên nhau làm cái, đồng thời trong lúc chơi thì L, V2 và D1 có đưa tiền xâu cho D2 mỗi người 50.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Trần Thị T1 và Kim Thị L4 ra về trước, còn lại V2, L, V và D1 tiếp tục chơi đến khoảng 16 giờ 10 phút thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã L kiểm tra lập biên bản và tạm giữ trên chiếu bạc gồm có: 01 bộ bài tây (loại bài 52 lá) đã qua sử dụng, 01 chiếc chiếu, 02 điện thoại di động hiệu OPPO và tiền Việt Nam 5.100.000 đồng. Kiểm tra trên người tạm giữ số tiền 10.950.000 đồng của Nguyễn Thị Thúy L, 16.900.000 đồng của Trần Thị Thúy V2, 19.000.000 đồng của Lâm Thị D1, 7.510.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO của Phạm Thị V, 1.000.000 đồng của Phạm Thị D2.
Kiểm tra xung quanh hiện trường tạm giữ 02 bộ bài tây (loại bài 52 lá) đã qua sử dụng, 03 xe mô tô biển kiểm soát 84D1-280.37; 84V1-2024 và 84B1-195.39. Thu giữ bên trong cốp xe mô tô 84D1-280.37 số tiền 20.000.000 đồng, 01 giấy đăng ký xe và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Thúy L. Qua xác minh vụ vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm nên Công an huyện C chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2, Phạm Thị D2 khai nhận:
L mang theo số tiền 32.000.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc. Khi Công an kiểm tra L thắng 1.500.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc và thắng bạc của L là 2.500.000 đồng, xác định nằm trong số tiền 5.100.000 đồng trên chiếu bạc. Quá trình chơi L có đưa cho D2 50.000 đồng tiền xâu; V mang theo số tiền 7.710.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, khi công an kiểm tra không thắng, không thua, số tiền 200.000 đồng xác định nằm trong số tiền 5.100.000 đồng trên chiếu bạc; T1 mang theo số tiền 1.500.000 đồng, sử dụng 700.000 đồng vào mục đích đánh bạc, T1 thua 300.000 đồng và ra về trước khi Công an kiểm tra; D1 mang theo số tiền 22.000.000 đồng, sử dụng 3.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, quá trình chơi D1 có đưa cho D2 50.000 đồng tiền xâu. Khi Công an kiểm tra D1 thua 950.000 đồng, số tiền 2.000.000 đồng còn lại xác định nằm trong số tiền 5.100.000 đồng trên chiếu bạc; L4 mang theo số tiền 400.000 đồng, sử dụng 400.000 đồng vào mục đích đánh bạc, L4 thua 300.000 đồng và ra về trước khi Công an kiểm tra; V2 mang theo 17.900.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, quá trình chơi V2 có đưa cho D2 50.000 đồng tiền xâu. Khi Công an kiểm tra V2 thua 550.000 đồng, số tiền 400.000 đồng còn lại xác định nằm trong số tiền 5.100.000 đồng trên chiếu bạc; D2 khai nhận vào ngày 02/8/2023, T1 có gọi điện thoại hỏi mượn nhà chơi đánh bài ăn thua bằng tiền thì D2 đồng ý. Trong quá trình chơi đánh bài V2, L và D1 mỗi người có đưa cho D2 số tiền 50.000 đồng. Tổng số tiền mà L, V, T1, D1, L4, V2 dùng vào việc đánh bạc là 6.300.000 đồng.
Về vật chứng: Ngoài số tiền đã tạm giữ trên chiếu bạc là 5.100.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tạm giữ số tiền dùng đánh bạc còn lại 400.000 đồng của Trần Thị T1, 100.000 đồng của Kim Thị L4 và số tiền xâu 150.000 đồng của Phạm Thị D2. Đồng thời ra quyết định xử lý vật chứng: Trả lại số tiền 30.950.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO, 01 căn cước công dân, 01 giấy đăng ký xe và 01 xe mô tô 84D1-280.37 cho Nguyễn Thị Thúy L; 16.900.000 đồng, 01 xe mô tô 84B1-195.39 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO cho Trần Thị Thúy V2; 19.000.000 đồng và 01 xe mô tô 84V1-2024 cho Lâm Thị D1; 7.510.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO cho Phạm Thị V; 850.000 đồng cho Phạm Thị D2. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang tạm giữ: 03 bộ bài tây (loại bài 52 lá) đã qua sử dụng, 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng và số tiền 5.750.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS.HS ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, tất cả các bị cáo thừa nhận vào khoảng từ 12 đến 16 giờ 20 phút, ngày 02/8/2023, tại nhà của bị cáo Phạm Thị D2, các bị cáo có đánh bài loại bài Ấn Độ 6 lá ăn thua bằng tiền với nhau thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang. Tất cả các bị cáo thừa nhận nội dung của Cáo trạng truy tố là đúng, không khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng đã truy tố các bị cáo.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh trình bày quan điểm tranh luận: Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của các bị cáo đúng như các lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu được, phù hợp với kết quả điều tra. Các bị cáo là người đã thành niên, biết rõ đánh bạc ăn thua bằng tiền, sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình cho người khác đánh bạc để lấy tiền xâu là bị pháp luật cấm, nhưng các bị vẫn thực hiện các hành vi nêu trên với tổng số tiền đánh bạc 6.300.000 đồng đồng. Nên hành vi của Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất của vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 17 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt các bị cáo cáo Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 từ 06 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2, mỗi bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, Vị kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định và hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền của người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 đã khai, hoàn toàn thừa nhận hành vi đánh bạc vào ngày 02/8/2023 tại nhà bị cáo Phạm Thị D2 thuộc ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, số tiền đánh bạc là 6.300.000 đồng. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội, vật chứng thu giữ, phù hợp với bản tự khai, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với cáo trạng đã truy tố các bị cáo. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh truy tố, kết luận và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét thấy tính chất của vụ án là ít nghiệm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tình hình trật tự công cộng, do vụ lợi các bị cáo đã rủ rê chọn địa điểm đánh bạc nhằm mục đích ăn thua để chiếm đoạt tiền của nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Tệ nạn đánh bạc phát sinh ra các tệ nạn xã hội khác làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân nên phải được ngăn chặn loại bỏ để đảm bảo tính nghiêm minh và kỷ cương pháp luật. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã thành niên có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết đánh bạc ăn thua bằng tiền và sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý sử dụng của mình cho người khác đánh bạc để thu tiền xâu là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Như vậy hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ với lỗi cố ý trực tiếp.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cũng cần xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính nguy hiểm hành vi phạm tội của từng bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng.
- Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thúy L bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do bị cáo có 02 tiền án về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 02/2020/HSST ngày 13/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, tuyên phạt 06 tháng tù và Bản án số 50/2020/HSPT ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 09 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 01/9/2021 tính đến thời điểm phạm tội chưa được xóa án tích.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi tại phiên tòa, có thân nhân là người có công với nước, số tiền đánh bạc giá trị không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Mặc dù bị cáo Nguyễn Thị Thúy L có các tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1, 2 Điều 51; nhưng bị cáo có tình tiết tăng nặng ở điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Rõ ràng hành vi chấp hành pháp luật của bị cáo L không cao, xem thường pháp luật. Do đó cần cách bị cáo Nguyễn Thị Thúy L ra ngoài xã hội mới đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội, đảm bảo trật tự xã hội tại địa phương. Mức án Viện kiểm sát đề nghị là cao so với hành phi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù cũng đủ để giáo dục bị cáo.
Đối với các bị cáo Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có nhiều tình tiết giảm nhẹ là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc giá trị không lớn, có thân nhân là người có công với nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nơi cư trú, rõ ràng nên không cần thiết phải phạt tù giam mà cho các bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bản thân các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Phạt các bị cáo Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
Đối với bị cáo Kim Thị L4 là người dân tộc, nhận thức pháp luật có hạn chế, nghĩ đánh bạc trước khi cơ quan công an bắt quả tang nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng và xử lý vật chứng: Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang tạm giữ: 03 bộ bài tây (loại bài 52 lá) đã qua sử dụng, 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng và số tiền 5.750.000 đồng.
- 03 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng và 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng đây là tang vật các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu hủy bỏ.
- Đối với số tiền đánh bạc các bị cáo khai là 6.300.000 đồng, nhưng khi cơ quan điều tra bắt quả tang chỉ thu được 5.100.000 đồng trên chiếu bạc và buộc bị cáo T1, bị cáo L4 và bị cáo D2 nộp lại là 650.000 đồng tông cộng là 5.750.000 đồng các bị cáo sử dụng đánh bạc và trên chiếu bạc nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
[5] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy L 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 17 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị V 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị T1 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án.
- Xử phạt bị cáo Lâm Thị D1 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án.
- Xử phạt bị cáo Kim Thị L4 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Thúy V2 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị D2 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Trần Thị T1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh và các bị cáo Phạm Thị V, Lâm Thị D1, Phạm Thị D2 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nơi các bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 2 Điều 32 Bộ luật Hình sự.
Phạt các bị cáo Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 mỗi bị cáo với số tiền 10.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
+ Tịch thu tiêu hủy 03 bộ bài tây loại 52 lá, đã qua sử dụng; 01 chiếu lát;
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.750.000 đồng.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Thúy L, Phạm Thị V, Trần Thị T1, Lâm Thị D1, Kim Thị L4, Trần Thị Thúy V2 và Phạm Thị D2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, các bị cáo có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại phúc thẩm.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Thi Thị Thanh T5 H | Lê Văn H1 |
Bản án số 18/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 18/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo phạm tội
