|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-5-2024
V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Anh Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Ngọc Thái
- 2. Ông Trần Ngọc Đức
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đức Định – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Yên Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hải Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 09/2024/TLST – HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên toà số: 23/TB-TA ngày 06 tháng 5 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
- Bị đơn: Anh Mông Văn Đ, sinh năm 1982. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Mông Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 12/01/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, anh Đ thường xuyên ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau. Chị và anh Đ đã tự hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả, chị đã 2 lần làm đơn ly hôn anh Đ tại Toà án nhân dân huyện Yên Bình vào năm 2022 và 2023, sau đó gia đình hai bên và anh Đ xin chị cơ hội quay lại nên chị đã rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ, nhưng sau khi đoàn tụ, anh Đ vẫn không thay đổi, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể cải thiện, khắc phục được nữa. Chị và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 12/2023 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm với anh Đ không còn. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Mông Văn Đ.
Về con chung: Giữa chị và anh Mông Văn Đ có 02 con chung là Mông Thị Hà L, sinh ngày 13-5-2008 và Mông Thị Phương A, sinh ngày 11-8-2013. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cháu Mông Thị Phương A, giao cháu Mông Thị Hà L cho anh Đ nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay chị đang ở nhà mẹ đẻ (ngay gần nhà của vợ chồng chị) cùng thôn T, xã C, huyện Y, hai cháu đang ở cùng anh Đ tại nhà riêng của vợ chồng chị. Chị vẫn thường xuyên về nhà để thăm nom, chăm sóc chu cấp các con ăn uống, học hành.
Chị và anh Đ đều là lao động tự do tại địa phương, thu nhập bình quân 5-6 triệu đồng/tháng. Vợ chồng chị đảm bảo các điều kiện về kinh tế, chỗ ở để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo đơn nguyện vọng của cháu Mông Thị Hà L và cháu Mông Thị Phương A nếu bố mẹ các cháu ly hôn thì các cháu có nguyện vọng được ở với bố.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Mông Văn Đ nhưng anh Đ không đến tòa để giải quyết việc chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh nên không có lời khai của anh Đ, anh Đ không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng : Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H để xử cho chị H được ly hôn anh Mông Văn Đ. Về nuôi con chung: Chấp nhận đề nghị về nuôi con chung của chị H. Giao con chung là Mông Thị Phương A, sinh ngày 11-8-2013 cho chị Nguyễn Thị H; giao con chung là Mông Thị Hà L, sinh ngày 13-5-2008 cho anh Mông Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Mông Văn Đ có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Mông Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử vắng mặt chị H, anh Đ là đúng quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Mông Văn Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 12 tháng 01 năm 2007. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, anh Đ thường xuyên ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Mông Văn Đ đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, anh Mông Văn Đ không có mặt để hòa giải, thể hiện anh Đ không có thiện chí hòa giải. Do đó yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H là có căn cứ, cần được chấp nhận. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Mông Văn Đ.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Mông Văn Đ có 02 con chung là Mông Thị Hà L, sinh ngày 13-5-2008 và Mông Thị Phương A, sinh ngày 11-8-2013. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu nhỏ là Mông Thị Phương A, giao cháu lớn là Mông Thị Hà L cho anh Đ nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét nguyện vọng của chị Nguyễn Thị H về nuôi con chung thấy rằng: Cả chị H và anh Đ là lao động tự do tại địa phương, có thu nhập, chỗ ở ổn định để nuôi con. Từ khi sống ly thân cho đến nay thì cả hai con đều đang ở với anh Mông Văn Đ, chị H cũng thường xuyên đến thăm nom, chu cấp cho các con ăn học. Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của cha mẹ. Nên để đảm bảo về mọi mặt sinh hoạt và học tập của con cần giao con Mông Thị Hà L, sinh ngày 13-5-2008 cho anh Mông Văn Đ; giao con Mông Thị Phương A, sinh ngày 11-8-2013 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tại phiên tòa về quan hệ hôn nhân và nuôi con chung là phù hợp, có căn cứ theo quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Mông Văn Đ.
2. Về con chung: Giao con chung là Mông Thị Hà L, sinh ngày 13-5-2008 cho anh Mông Văn Đ; giao con chung là Mông Thị Phương A, sinh ngày 11-8-2013 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị H và anh Mông Văn Đ không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số AA/2023/0001233 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình. (Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ).
Chị Nguyễn Thị H và anh Mông Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Anh Đào |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI Số: 01/2024/QĐ-TA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Yên Bình, ngày 27 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SỬA CHỮA BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM
Căn cứ Điều 268 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Xét cần sửa chữa, bổ sung bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
QUYẾT ĐỊNH:
Sửa chữa, bổ sung bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái như sau:
Tại dòng thứ 04 từ trên xuống, trang đầu tiên của bản án đã ghi:
“Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST".
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
“ Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST".
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Trần Anh Đào |
Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn nuôi con
