TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/DS-ST
Ngày: 22-5-2024
V/v Tranh chấp Quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Như.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cảnh và và ông Cao Huy Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Hoà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Phạm Thanh Long – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 và ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2023/TLST – DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp Quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Đức N, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ( có mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Công T, sinh năm 1985, Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Kim Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Huỳnh Thị Phi Y, sinh năm 2008. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt có đơn xin vắng mặt).
- Huỳnh Thị Linh Đ1, sinh năm 2020. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt có đơn xin vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.( có mặt).
- Trần Gia B, sinh năm 2014. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt có đơn xin vắng mặt).
- Trần Nguyễn Thúy V, sinh năm 2021. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyên đơn ông N trình bày: Ông và ông T không có quan hệ họ hàng gì, chỉ biết do đất gần nhau. Năm 2012 ông mua diện tích đất 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103 vào giấy CNQSDĐ số BL807466 tại xã B với giá 195.000.000 đồng, đến ngày 11/9/2012 ông được cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích đất trên. Khi ông mua đất thì trên đất đã có hiện trạng 01 căn nhà cấp 4 ngang 3m dài 10m, lợp tôn lót gạch, diện tích đất đầu trên ngang 4m đầu dưới ngang 5,5m chiều dài đất mỗi bên là 24,5m và 26m, giáp đất ông T bên chiều dài 24,5m. Khi ông mua đất thì không có cắm ranh hay đo đạc gì, chỉ mua giấy tờ xong là thôi, ông bỏ đó không sử dụng đến năm 2019 mới về ở. Đến năm 2020 ông N cất nhà trên diện tích đất trên theo ranh cũ, khi cất thì đã bên đất của ông T đã có xây phần nhà vệ sinh sát đất nhà ông và nhà ông xây từ vách nhà vệ sinh của đất ông T. Năm 2022 ông yêu cầu công ty Đ2 lại diện tích đất của ông thì phát hiện diện tích đất của ông mất khoảng 3.5m ² phần bên đất giáp ranh của ông T (phần vách nhà vệ sinh bên ông T). Khi ông mua đất ông có thấy phần nhà vệ sinh bên ông T, ông chủ đất cũ không có chỉ ranh gì chỉ mua trên giấy tờ thôi, ông cũng không biết giữa chủ đất cũ và ông T có thoả thuận gì. Vào năm 2020 khi ông xây nhà đã phát hiện bị mất đất nhưng do nghĩ hàng xóm nên đợi khi nào bên anh T làm nhà thì trả lại cho ông nhưng đến năm 2022 khi anh T xây sửa nhà vẫn giữ vách nhà vệ sinh như cũ nên ông mới khởi kiện. Hiện nay đất trên hiện nay bên đất ông có căn nhà 2 tầng, chiều ngang mặt trên khoảng 4m, chiều ngang mặt dưới là 5,5m gia đình ông là người trực tiếp quản lý sử dụng, không thế chấp hay chuyển nhượng cho ai. Ông đang giữ giấy đỏ diện tích đất trên.
Nay ông N yêu cầu ông T trả lại cho ông diện tích khoảng 3.3m² đúng theo giấy CNQSDĐ của ông và bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Sở T1 ngày 12/10/2023 trong diện tích 119m² thuộc thửa số 517 tờ bản đồ số 103 giấy CNQSDĐ số BL 807466 cấp ngày 11/9/2012 tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông, trả hiện trạng ban đầu ông yêu cầu phá bỏ tường nhà vệ sinh do ông T xây dựng trên phần tranh chấp.
Bị đơn ông T trình bày: Ông không có quan hệ họ hàng, bà con gì với ông Trần Đức N chỉ quen biết do hàng xóm. Năm 2001 mẹ ông tên Nguyễn Thị B1 có mua diện tích đất khoảng chiều ngang mặt trước 5,2m chiều ngang mặt sau 5m chiều dài khoảng 25-26m khi đó mua giấy tay đến năm 2013 mẹ ông cho ông diện tích đất trên và ông được cấp giấy CNQSDĐ diện tích 114,5 m², thửa đất số 58, tờ bản đồ số 103 giấy CNQSDĐ số BQ 195839 cấp ngày 12/11/2013. Từ năm 2001 gia đình ông đã sử dụng ổn định diện tích đất trên. Ông cất nhà năm 2001 và sử dụng đến nay ranh giới thống nhất không có tranh chấp với ai. Năm 2019 bên anh N về mua đất của ông Đoàn Quốc C sống bên cạnh đất của ông, trước đây ông C là chủ đất cũ thì ông và bên ông C đã thống nhất ranh giới, phần phía sau ranh từ vách nhà vệ sinh của ông, hai bên không có cắm ranh chỉ lấy ranh từ nhà vệ sinh của ông kéo hết đất. Sau này ông N về xây nhà cũng lấy theo ranh cũ đó không có tiến hành đo đạc lại. Đến năm 2022 khi ông tiến hành sửa chữa nhà cụ thể là nâng nền và xây thêm tầng lửng thì bên ông N cho rằng nhà ông lấn đất của nhà ông N phần nhà vệ sinh cũ trước đó, trong khi ông sửa nhà không có thay đổi ranh giới gì với phần đất giáp đất ông N. Ông sử dụng ổn định diện tích đất trên từ năm 2001 đến nay không có tranh chấp với ai. Trên đất ông có căn nhà cấp 4 chiều ngang khoảng 4m, dài khoảng 16m, nền gạch, lợp tôn, nhà có cổng rào, xung quang đất trống, gia đình ông đang trực tiếp quản lý sử dụng, giấy đỏ ông giữ không có thể chấp hay sang nhượng cho ai
Ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông N vì ông sử dụng diện tích đất trên ổn định, khi ông N về mua đất thì ông đã có xây nhà vệ sinh và hiện trạng ranh nhà như hiện tại và các bên thống nhất sử dụng theo ranh từ chủ đất cũ từ đó đến nay, không có tranh chấp gì với ai, nay ông N yêu cầu ông trả diện tích 3,3 m² và phá bỏ phần tường nhà vệ sinh bên đất ông, ông không đồng ý.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H trình bày: Bà là vợ ông N và hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông N, bà cam kết không tranh chấp với ông N về diện tích đất trên trong vụ án này. Bà yêu cầu ông T trả lại cho tông N diện tích 3.3m² đúng theo giấy CNQSDĐ và bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Sở tài nguyên môi trường thuộc thửa số 517 tờ bản đồ số 103 giấy CNQSDĐ số BL 807466 cấp ngày 11/9/2012 tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, trả hiện trạng ban đầu, đề nghị phá bỏ tường nhà vệ sinh bên ông T xây dựng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Gia B, Trần Nguyễn Thúy V: Là con của ông N và bà H, các em hiện đang sống cùng cha mẹ trên diện tích đất của ông N tại xã B, do hai em chưa thành niên nên ý kiến của hai em là ý kiến của người giám hộ N và bà H, các em có đơn xin vắng mặt không tham gia tố tụng
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đ trình bày : Bà là vọ ông T, bà thống nhất với lời trình bày của chồn, xác định vợ chồng bà sử dụng ổn định diện tích đất trên từ năm 2001 đến nay, không có tranh chấp với ai, gia đình anh N là người mua đất sau, về đây sử dụng tiếp nối theo ranh giữa vợ chồng bà và chủ đất cũ. Sau đó gia đình ông N xây nhà bên bà cũng không có ý kiến gì, nay cho rằng bên bà lấn đất bà không đồng ý. Bà cam kết không tranh chấp với chồng là ông Huỳnh Công T về diện tích đất trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Phi Y, Huỳnh Thị Linh Đ1: Là con của ông T và bà Đ, các em hiện đang sống cùng cha mẹ trên diện tích đất của ông T tại xã B, do hai em chưa thành niên nên ý kiến của hai em là ý kiến của người giám hộ ông T và bà Đ, các em có đơn xin vắng mặt không tham gia tố tụng.
Các bên thống nhất thống nhất kết quả đo đạc theo bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh số hợp đồng 131666 ngày 12/10/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên môi trường thành phố T1 và biên bản định giá ngày 14/11/2023 của Hội đồng định giá thành lập theo Quyết định định giá số 17/2023 ngày 30/10/2023. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng là chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá, số tiền 20.242.024 (hai mươi triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn không trăm hai mươi bốn) đồng chi phí đo đạc. Các bên thống nhất giải quyết chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ phát biểu ý kiến: Về trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại Tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, không vi phạm về tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Án phí dân sự sơ thẩm: Các bên phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, nghe đương sự trình bày và hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Ông N khởi kiện yêu cầu ông T trả lại QSDĐ đất trả lại cho ông N diện tích đất khoảng 3,5 m² thuộc diện tích 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103 vào giấy CNQSDĐ số BL807466 cấp cho ông Trần Đức N tại xã B, huyện C mà ông T lấn chiếm, sử dụng. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Quyền sử dụng đất” theo Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bất động sản đang tranh chấp toạ lạc tại xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết: Ông N khởi kiện được xác định là nguyên đơn; ông T được xác định là bị đơn. Bà Đ, bà H, em B, em V, em Y, em Đ1 được xác định là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các bên tranh chấp về quyền sử dụng đất nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
[1.3] Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng: Tòa án xét xử trên cơ sở chứng cứ do người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập khi thấy cần thiết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Về chứng cứ chứng minh cho lời trình bày các đương sự Tòa án đã thu thập đầy đủ. Thời điểm phát sinh tranh chấp Bộ luật dân sự 2015 và Luật Đất đai năm 2013 đang có hiệu lực pháp luật nên được áp dụng. Tòa án đã lập biên bản về việc công khai chứng cứ, hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và Tòa án xét xử trong phạm vi đương sự yêu cầu.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lại diện tích diện tích đất 3,3m² thuộc diện tích 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103 vào giấy CNQSDĐ số BL807466 tại xã B do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 09/5/2022 cho ông Trần Đức N.
Xét nguồn gốc diện tích đất tranh chấp theo giấy CNQSDĐ số CH01123 diện tích 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103, tọa lạc tại xã B, huyện C cấp ngày 09/12/2011 cho ông Huỳnh Thái P. Ngày 21/8/2012 ông P chuyển nhượng cho ông Trần Đức N. Đến ngày 11/9/2012 ông N được cấp giấy CNQSDĐ số BL807466 thay thế giấy CNQSDĐ số CH01123. Tất cả quá trình chuyển nhượng, cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích đất trên của ông N đều thực hiện đúng quy định pháp luật, do vậy có cơ sở xác định ông N là chủ sở hữu đối với quyền sử dụng đất diện tích 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103, tọa lạc tại xã B, huyện C.
Căn cứ theo bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh ngày 12/10/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T1 xác định diện tích tranh chấp diện tích 3,3m² (vị trí 6) mà bị đơn ông T đang sử dụng và cho rằng thuộc đất của ông T nằm trong trong giấy CNQSDĐ số BL807466 diện tích 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103, tọa lạc tại xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh do UBND huyện C cấp ngày 11/9/2012 cho ông Trần Đức N. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn ông T cũng thừa nhận phần đất tranh chấp trong vụ án ông cho rằng thuộc quyền sử dụng của mình căn cứ vào ranh giữa ông và chủ đất cũ trước ông N tự xác định không có đo đạc cắm ranh và cũng không có xác nhận với chính quyền địa phương hay cơ quan quản lý đất đai. Do đó có cở sở xác định ông T có hành vi lấn chiếm và sử dụng diện tích đất 3.3m² không đúng quy định pháp luật. Căn cứ theo quy định Luật đất đai 2013 cụ thể khoản 1 Điều 12 Luật đất đai năm 2013 quy định những hành vi bị nghiêm cấm: “Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai”, khoản 5 Điều 166 Luật đất đai quy định quyền chung của người sử dụng đất: “Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình” và tại khoản 1 Điều 170 Luật đất đai năm 2013 quy định nghĩa vụ chung của người sử dụng đất: “sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Đồng thời tại khoản 2 Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Đối chiếu với nội dung vụ án nhận thấy, diện tích 3,3m² đất mà ông N yêu cầu ông T trả lại thuộc quyền sử dụng trong diện tích 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103, tọa lạc tại xã B, huyện C của ông N và ông T đã có hành vi lấn chiếm sử dụng đất không đúng quy định pháp luật. Do đó, nguyên đơn ông N yêu cầu ông T phải trả lại diện tích 3,3 m² thuộc diện tích 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103, tọa lạc tại xã B theo bản đồ đo đạc áp ranh ngày 12/10/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T1 cho ông N là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Xét về các tài sản trên diện tích đất tranh chấp: Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/6/2023 xác định trên diện tích đất tranh chấp là đất trống, có một tường nhà vệ sinh dài 2,2m ngang 1,4m cao 2m do ông T xây dựng. Hội đồng xét xử xét thấy, Quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước bảo hộ, không có cá nhân, tổ chức nào được quyền lấn, chiếm trái phép. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T1 lập ngày 12/10/2023 xác định tổng diện tích mà ông T lấn chiếm của ông N là diện tích 3,3m² nằm trong diện tích thuộc diện tích 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103, tọa lạc tại xã B, huyện C giấy CNQSDĐ cấp cho ông N, trên diện tích lấn chiếm ông T đã xây dựng 01 vách tường nhà vệ sinh dài 2,2m ngang 1,4m cao 2m. Bị đơn ông T cũng thừa nhận việc ông xây dựng tường nhà vệ sinh là không có giấy phép xây dựng và khi xây dựng lấy mốc ranh giới đất là giao kết giữa ông và chủ đất cũ trước ông N hoàn toàn không có sự chứng kiến xác nhận của chính quyền địa phương nơi có đất. Căn cứ khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”. Từ các chứng cứ chứng minh xác định việc lấn chiếm và sử dụng trái phép phần đất của ông N từ ông T là trái quy định pháp luật do đó cần buộc ông T tháo dỡ toàn bộ các công trình tài sản trên tích tranh chấp gồm tường nhà vệ sinh chiều dài 2,2m chiều ngang 1,4 cao 2m (vị trí số 6 theo bản đồ đo đạc ngày 12/10/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T1).
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đức N. Xét thấy quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp quy định pháp luật, phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng là chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá, số tiền 20.242.024 (hai mươi triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn không trăm hai mươi bốn) đồng chi phí đo đạc. Căn cứ điều 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu khởi kiện nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông T chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản tổng cộng là 23.242.024 (hai mươi ba triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn không trăm hai mươi bốn) đồng. Ghi nhận nguyên đơn ông N đã tạm nộp nên ông T có trách nhiệm trả lại chi phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản là 23.242.024 (hai mươi ba triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn không trăm hai mươi bốn) đồng cho ông N.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các bên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 26, khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể đối với tranh chấp đòi tài sản là “Quyền sử dụng đất” thuộc trường hợp án phí không có giá nghạch nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bị đơn chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 165 và Điều 273, 277, 278 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 12, Điều 105, khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ Điều 164 và Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đức N đối với bị đơn ông Huỳnh Công T về yêu cầu tranh chấp Quyền sử dụng đất.
Buộc ông Huỳnh Công T trả lại cho ông Trần Đức N diện tích đất 3,3 m² thuộc diện tích 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103, tọa lạc tại xã B (vị trí 6 theo bản đồ đo đạc ngày 12/10/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T1 đính kèm bản án).
Buộc ông T tháo dỡ tường nhà vệ sinh dài 2,2m ngang 1,4m cao 2m trên diện tích 3,3 m² thuộc diện tích 119 m², thửa đất số 517, tờ bản đồ số 103, tọa lạc tại xã B (vị trí 6 theo bản đồ đo đạc ngày 12/10/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T1 đính kèm bản án).
3. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông T chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản tổng cộng là 23.242.024 (hai mươi ba triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn không trăm hai mươi bốn) đồng. Ghi nhận nguyên đơn ông N đã tạm nộp nên ông T có trách nhiệm trả lại chi phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản là 23.242.024 (hai mươi ba triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn không trăm hai mươi bốn) đồng cho ông N.
4. Về án phí: Bị đơn ông Huỳnh Công T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ hoàn trả ông Trần Đức N số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng là tiền tạm ứng án phí ông N đã tạm nộp theo biên lai thu số 0046247 ngày 11 tháng 4 năm 2023.
“Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Quỳnh Như |
Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 18/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: QSDĐ
