|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày 30-5-2025 V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoà
Ông Nguyễn Văn Hiệp
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Lộc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 424/2024/TLST-HN ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Hồng T, sinh năm 1992
Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Anh Trương Văn P, sinh năm 1989
Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 01/7/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng chị Phùng Thị Hồng T trình bày: Tôi với anh Trương Văn P quen biết nhau do mai mối và được sự đồng ý của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới năm 2012, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 05/12/2012. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì vợ phát sinh mâu thuẩn do chồng không lo cho gia đình, thường xuyên uống rượu bia về nhà đánh đập hành hung tôi mặc dù đã được cha mẹ khuyên nhưng anh P không từ bỏ. Từ đó, vợ chồng không còn hạnh phúc, tôi bỏ về nhà mẹ ruột sống và đi làm nuôi con cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn lại được nên tôi yêu cầu xin được ly hôn với anh Trương Văn P.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Trương Thị Ngọc G, sinh ngày 08/7/2013 đang sống chung tôi. Sau khi ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung, nợ riêng và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Trương Văn P: Trong quá trình giải quyết anh P vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Ý kiến cháu Trương Thị Ngọc G: Cháu có nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn mong muốn được tiếp tục sống với mẹ là chị Phùng Thị Hồng T.
Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các đương sự nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự còn bị đơn vắng mặt không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chị Phùng Thị Hồng T về việc xin ly hôn với anh Trương Văn P và được tiếp tục nuôi con chung.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ đơn khởi kiện của chị Phùng Thị Hồng T xin ly hôn đối với anh Trương Văn P có địa chỉ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh và yêu cầu được nuôi con, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn có mặt còn bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Hồng T với anh Trương Văn P tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã T cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 149 ngày 05 tháng 12 năm 2012 nên xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[4] Theo lời khai của chị Phùng Thị Hồng T cho rằng nguyên nhân vợ chồng không còn hạnh phúc do anh P không lo cho gia đình, thường xuyên uống rượu bia về nhà đánh đập hành hung chị nên chị T yêu cầu xin ly hôn với anh P. Đối với anh P, Toà án đã mời nhiều lần để giải quyết nhằm động viên, hàn gắn cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh P không đến dự. Qua xác minh, theo lời khai của ông Nguyễn Văn T1 là cậu ruột anh Trương Văn P khai: “Phùng Thị Hồng T và Trương Văn P do tôi làm mai mối. Sau khi cưới hai vợ chồng sống bên chồng đều đi làm thuê cũng hạnh phúc nhưng khoảng năm 2020 P và T mâu thuẩn với nhau do P thường hay uống rượu thường xuyên nghỉ làm và T có nhờ tôi giải quyết, lúc này tôi có đứng ra hoà giải xong cũng êm xuôi nhưng thời gian sau P thường hay uống rượu thường xuyên nghỉ làm tôi có khuyên hoài nhưng P không nghe. Đỉnh điểm khoảng năm 2021 P thường xuyên đánh đập vợ và nhốt vợ trong nhà đến mùng 9 tết năm 2021 T trốn ra được bỏ về nhà mẹ ruột sống cho đến nay. Tôi có gặp cha mẹ ruột anh P là bà Nguyễn Thị D để nói chuyện nhưng bà D lớn tiếng nói ngang nên tôi không thèm nói nữa. Tôi thấy hai vợ chồng Phùng Thị Hồng T với Trương Văn P khổng thể hàn gắn lại được vì P thường xuyên bạo lực gia đình đánh đập T và T cũng chịu đựng rất nhiều và hiện nay T không còn về sống bên P nữa vì sợ bị đánh, sui gia hai bên cũng không còn nói chuyện với nhau” và theo lời khai bà Nguyễn Thị B là mẹ ruột của chị Phùng Thị Hồng T khai: “Phùng Thị Hồng T và Trương Văn P quen biết nhau do mai mối, sau khi cưới hai vợ chồng sống bên chồng đều đi làm thuê cũng hạnh phúc nhưng khoảng năm 2022 P và T mâu thuẩn với nhau, mấy đứa cháu gọi điện thoại kêu tôi qua, tôi có chứng kiến hai vợ chồng có gây sự với nhau, lúc này P bóp cổ T tôi mới can ngăn nhưng không báo chính quyền địa phương vì sợ tai tiếng. Từ đó, T cùng con về bên tôi sống cho tới nay không còn liên lạc với P. Tôi có gặp bà Nguyễn Thị D là sui gia để nói chuyện nhưng bà D lớn tiếng binh con rễ nên tôi nói không nói được gì bỏ về nhà không còn nói chuyện với sui gia nữa. Tôi thấy hai vợ chồng Phùng Thị Hồng T với Trương Văn P khổng thể hàn gắn lại được vì P thường xuyên bạo lực gia đình đánh đập T và hiện nay T không còn về sống bên P nữa vì sợ bị đánh”. Thấy rằng, nguyên nhân vợ chồng chị T, anh P không còn sống hạnh phúc với nhau là do anh P không lo cho gia đình, thường xuyên uống rượu bia về nhà đánh đập nên chị T và anh P sống ly thân với nhau. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Nhưng thực tế hiện nay, cuộc sống hôn nhân vợ chồng anh P, chị T không còn quan tâm, lo lắng cho nhau và không còn liên lạc với nhau, thân ai nấy lo, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Từ những cở sở trên, việc yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh P.
[5] Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh con, xác định vợ chồng chị T, anh P có 01 người con chung tên Trương Thị Ngọc G, sinh ngày 08/7/2013 hiện đã trên 07 tuổi do chị T nuôi dưỡng có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị T, đây cũng là nguyện vọng thực tế, phù hợp điều kiện sinh hoạt, học tập của con Trương Thị Ngọc G. Do đó, Hội đồng xét xử giao cho chị Phùng Thị Hồng T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Đồng thời, anh P được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử đã phân tích và giải thích về quyền được yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhằm đảm bảo quyền lợi cho con nhưng chị T chưa yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, vì lợi ích của con, sau khi ly hôn chị T được quyền yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
[7] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng, chị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh và có tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác.
[8] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Phùng Thị Hồng T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 33, Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phùng Thị Hồng T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Hồng T được ly hôn với anh Trương Văn P. Giấy chứng nhận kết hôn số số 149 ngày 05 tháng 12 năm 2012 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp cho chị Phùng Thị Hồng T và anh Trương Văn P không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Chị Phùng Thị Hồng T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trương Thị Ngọc G, sinh ngày 08/7/2013.
Anh Trương Văn P được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị T và anh P có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
- Về cấp dưỡng nuôi con, do chị Phùng Thị Hồng T chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vì lợi ích của con, sau khi ly hôn, chị Phùng Thị Hồng T được quyền yêu cầu anh Trương Văn P cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: chị Phùng Thị Hồng T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh và có tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác.
- Về án phí: Chị Phùng Thị Hồng T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004577 ngày 18/10/2024 tại Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Án xử công khai vắng mặt bị đơn. Chị Phùng Thị Hồng T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án và anh Trương Văn P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phùng Thị Hồng Thuỷ được ly hôn với anh Trương Văn Phong.
