Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH ĐẠI

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 23-5-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tuấn Khanh; Ông Đặng Hoàng Mích

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tư - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Phan Tuấn C, sinh ngày 26/6/1991, tại huyện B, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ) và bà Phan Thị L, sinh năm 1962; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tháng 12/2021 bị Công an xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt xong); Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 30/2025/HSST-LCCT ngày 11/4/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (có mặt).

Bị hại: Nguyễn Xăm B (tên gọi khác: T), sinh năm 1987; Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 27/8/2024, Nguyễn Xăm B, sinh 1987, nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre cùng với Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1986, nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre đến uống cà phê tại quán N thuộc ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Tại đây, B gặp Phan Tuấn C, sinh năm 1991, nơi cư trú: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre đang nằm trên võng của quán. Do có mâu thuẫn trước đó nên lúc này B cầm ly thủy tinh tiến đến định đánh C thì được Phạm Ái H, sinh năm 1993, nơi cư trú: Ấp P, xã P (nay là xã L), huyện B, tỉnh Bến Tre can ngăn. Quá trình can ngăn, H bị B đang cầm ly thủy tinh quơ trúng mắt phải, làm trầy xước vùng đuôi mắt phải của H. Thấy vậy, C ngồi dậy đi ra phía trước quán thì B tiếp tục cầm ly chạy theo đánh C. C bỏ chạy ra sân của quán, tiến đến vị trí của xe ô tô biển số 71F-001.85 của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989, nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre mà C vừa điều khiển đến đậu trước sân của quán, lúc này B cũng vừa chạy tới phía sau. C mở cửa xe lấy 01 con dao tự chế của C mua dài khoảng 50 cm, có cán bằng nhựa màu đen dài khoảng 20 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 30 cm, có một cạnh sắc bén đựng trong 01 bao da được để dưới ghế lái, C dùng tay phải cầm dao chém 02 nhát, 01 nhát trúng vào đầu và 01 nhát trúng vào tay trái của B gây thương tích, chảy máu. Nguyễn Hoàng Đ bên trong quán thấy vậy nên lấy 01 con dao bầu tại quán cà phê ra hỏi C sao lại chém B thì C nói “mày không thấy nó đánh tao trước hả”, rồi C chạy đến con kênh gần đó ném bỏ con dao đã chém B xuống kênh và bỏ đi. Bal vào quán cà phê lấy 01 cái xẻng ra đập vào xe ô tô biển số 71F-001.85 gây trầy xước nhẹ vùng cửa xe, sau đó, B được những người trong quán đưa đi cấp cứu.

Ngày 07/9/2024, Nguyễn Xăm B đến Công an xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre gửi đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Phan Tuấn C về hành vi chém gây thương tích cho B.

Tại Kết luận giám định số 368/24/KLTTCT-TTPYBT ngày 31/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B đã kết luận:

1. Các kết quả chính:

  • - Sẹo đỉnh kích thước nhỏ.
  • - Sẹo cẳng tay trái kích thước trung bình.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Xăm B là 03%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Phân tích từng vết thương:

  • + Sẹo đỉnh kích thước nhỏ: 01% - căn cứ chương 8 mục I.1.
  • + Sẹo cẳng tay trái kích thước trung bình: 02% - căn cứ chương 8 mục I.2
  • - Cơ chế hình thành thương tích do vật sắc nhọn gây ra.

Ngày 06/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định lại tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Xăm B.

Theo Kết luận giám định số 14/KLTTCT-PVPYQG ngày 17/01/2025 của Phân viện pháp y quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận:

1. Các kết quả chính:

  • - Sẹo kích thước nhỏ vùng đỉnh đầu.
  • - Sẹo kích thước trung bình cẳng tay trái.

2. Kết luận:

2.1 Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định:

  • - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Nguyễn Xăm B tại thời điểm giám định là:
    • + Sẹo kích thước nhỏ vùng đỉnh dầu: 01%.
    • + Sẹo kích thước trung bình 1/3 giữa trước trong cẳng tay trái: 02%.
  • - Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Xăm B tại thời điểm giám định là: 03%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Vật chứng của vụ án đã bị thu giữ và được nhập kho bảo quản, quản lý gồm: 01 bao da bằng vải màu đen dài 57cm, rộng 7,5cm, phần vỏ bao lưỡi dài 4,5cm; 01 dao bầu dài 30cm, có cán bằng nhựa dài 12cm, lưỡi bằng kim loại, có 01 cạnh sắc bén dài 18cm; 01 xẻng bằng kim loại dài 90cm; 01 ly thủy tinh có quay cầm, có nhiều khía.

Đối với hành vi của Nguyễn Xăm B dùng ly thủy tinh quơ, đánh trúng phía sau đôi mắt phải của H gây trầy xước nhẹ, Cơ quan điều tra đề nghị công an xã T, huyện B lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định.

Đối với hành vi của Nguyễn Xăm B dùng xẻng đập vào xe ô tô biển số 71F-001.85 gây trầy xước nhẹ, Cơ quan điều tra đề nghị công an xã T, huyện B lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Xăm B yêu cầu Phan Tuấn C bồi thường tổng số tiền là 159.563.000 đồng, bao gồm: Chi phí điều trị là 7.363.000 đồng; Tiền ngày công lao động là 96.000.000 đồng; Tiền tàu xe là 6.200.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần là 50.000.000 đồng. Quá trình điều tra, truy tố, Trần Tuấn C1 không đồng ý bồi thường số tiền này do cho rằng số tiền bồi thường quá cao, không hợp lý nên hai bên chưa giao nhận số tiền bồi thường nào. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, Trần Tuấn C1 đã tự nguyện xin nộp số tiền 10.000.000 đồng (đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại) để đảm bảo bồi thường một phần thiệt hại về sức khỏe của Nguyễn Xăm B khi vụ án chuyển sang giai đoạn thi hành án.

Tại Cáo trạng số 21/CT-VKSBĐ ngày 01/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại truy tố Phan Tuấn C về “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Tuấn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân B, tỉnh Bến Tre đã truy tố; Bị cáo sẽ tiếp tục thực hiện việc bồi thường cho Nguyễn Xăm B chi phí điều trị theo như nội dung Hội đồng xét xử quyết định, riêng về tiền ngày công lao động bị cáo tự nguyện bồi thường 16.000.000 đồng và 10.000.000 tiền tổn thất về tinh thần cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử các nội dung sau:

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 64 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo về “Tội cố ý gây thương tích” với mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 02 năm.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao da bằng vải màu đen dài 57cm, rộng 7,5cm, phần vỏ bao lưỡi dài 4,5cm; 01 dao bầu dài 30cm, có cán bằng nhựa dài 12cm, lưỡi bằng kim loại, có 01 cạnh sắc bén dài 18cm; 01 xẻng bằng kim loại dài 90cm; 01 ly thủy tinh có quay cầm, có nhiều khía.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại: chi phí khám, chữa bệnh, tiền tàu xe và tiền ăn trong những ngày điều trị là 9.642.446 đồng; Về tiền ngày công lao động do bị cáo tự nguyện bồi thường 16.000.000 đồng và tiền bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần là 10.000.000 đồng là cao hơn so với mức quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo. Tổng cộng buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền là 9.642.446 đồng + 16.000.000 đồng + 10.000.000 đồng = 35.642.446 đồng. Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường trước với số tiền là 10.000.000 đồng (đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại). Bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền là 25.642.446 đồng.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị hại thống nhất, không có ý kiến bổ sung gì thêm đối với phần đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại; Về nội dung luận tội, bị hại xác định bị hại có cầm ly tiến đến chỗ bị cáo nhưng không có mục đích đánh bị cáo và khi bị cáo đi ra chỗ chiếc xe ô tô đang đậu thì bị hại chỉ đi theo bị cáo, không phải đuổi theo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với nội dung luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại. Trong lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có điều kiện cải tạo, chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về chứng cứ buộc tội và tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 27/8/2024, tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre, xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân, Phan Tuấn C đã có hành vi dùng dao tự chế (dài khoảng 50cm, có cán bằng nhựa màu đen dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 30cm, có 01 cạnh sắc bén) chém 02 nhát vào người của Nguyễn Xăm B tại vùng đỉnh đầu và cẳng tay trái, gây thương tích 03%; Nguyễn Xăm B có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Phan Tuấn C. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre truy tố Phan Tuấn C về “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Phan Tuấn C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng dao tấn công (chém) người khác sẽ gây ra thương tích, tổn hại cho sức khỏe của người khác và làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, bị cáo vẫn cố ý thực hiện một cách trái pháp luật, dẫn đến thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% và làm ảnh hưởng đến tinh thần cũng như khả năng lao động của bị hại, trong khi lẽ ra bị cáo có thể có cách xử lý khác tốt hơn. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[3] Về nhân thân của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Tháng 12/2021 bị cáo bị Công an xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong; Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện nộp một phần tiền bồi thường cho bị hại (tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại) với số tiền là 10.000.000 đồng.

Trong sự việc này, xét bị hại cũng có một phần lỗi. Mặc dù tại phiên tòa bị hại cho rằng bị hại cầm ly thủy tinh tiến đến chỗ bị cáo không có mục đích đánh bị cáo nhưng trong quá trình điều tra, các lời khai của bị hại đều thể hiện việc bị hại cầm ly thủy tinh tiến đến chỗ bị cáo là để đánh bị cáo, do giữa bị hại và bị cáo có mâu thuẫn từ trước đó, khi bị cáo đi ra xe thì bị hại vẫn tiếp tục cầm ly thủy tinh đi theo sau bị cáo. Xét thấy, tại phiên tòa, bị hại xác nhận lời khai của bị hại tại cơ quan điều tra là đúng với ý chí của bị hại, do đó, không có cơ sở chấp nhận lời khai của bị hại tại phiên tòa cho rằng bị hại cầm ly tiến đến chỗ bị cáo nhưng không có mục đích đánh bị cáo và khi bị cáo đi ra chỗ chiếc xe ô tô đang đậu thì bị hại chỉ đi theo bị cáo, không phải đuổi theo.

Qua đó, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là phù hợp, thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.

[4] Về quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã xội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và bị hại cũng có một phần lỗi khi chủ động tiến đánh bị cáo trước. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về cho chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức trong việc tôn trọng pháp luật, tôn trọng sức khỏe của người khác cũng như có điều kiện lao động chăm lo cho gia đình, bồi thường cho bị hại, cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bao da bằng vải màu đen dài 57cm, rộng 7,5cm, phần vỏ bao lưỡi dài 4,5cm; 01 dao bầu dài 30cm, có cán bằng nhựa dài 12cm, lưỡi bằng kim loại, có 01 cạnh sắc bén dài 18cm; 01 xẻng bằng kim loại dài 90cm; 01 ly thủy tinh có quay cầm, có nhiều khía (hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại đang quản lý).

Đối với con dao gây án, bị cáo khai đã vứt xuống con kênh gần hiện trường gây án, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, xử lý.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Chi phí điều trị:

Chi phí khám bệnh, chữa bệnh là: 1.500.000 đồng (theo Phiếu điều trị của Trạm Y tế xã T ngày 15/9/2024) và 1.363.946 đồng (theo Phiếu thu số 248266 ngày 30/8/2024 của Bệnh viện N1).

Tiền tàu xe đi lại trong quá trình điều trị là: 6.100.000 đồng (theo Phiếu thu của Công ty TNHH V).

Chi phí bồi dưỡng sức khỏe: Được tính bằng 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám, chữa bệnh cho 01 ngày khám, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án, cụ thể: 04 ngày (từ ngày 27/8/2024 đến ngày 30/8/2024) x (4.410.000 đồng/tháng : 26 ngày) = 678.500 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại chi phí điều trị với số tiền là: 1.500.000 đồng + 1.363.946 đồng + 6.100.000 đồng + 678.500 đồng = 9.642.446 đồng.

Đối với phần yêu cầu của bị hại vượt quá là: (7.363.000 đồng + 6.200.000 đồng) - 9.642.446 đồng = 3.920.554 đồng không được chấp nhận.

- Tiền ngày công lao động: Bị hại yêu cầu bồi thường 96.000.000 đồng là cao so với quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, việc bồi thường tiền ngày công lao động phải căn cứ mức lương tối thiểu vùng tại nơi bị hại cư trú để xác định phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút của bị hại và buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tương đương với phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút đó. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 16.000.000 đồng (cao hơn so với mức quy định của pháp luật) nên ghi nhận.

Đối với phần yêu cầu của bị hại vượt quá là 96.000.000 đồng - 16.000.000 đồng = 80.000.000 đồng không được chấp nhận.

- Thiệt hại về tinh thần: Mặc dù theo quy định của pháp luật dân sự thì người bị thiệt hại về sức khỏe có thể được bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần với mức tối đa là không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Tuy nhiên, qua xem xét về tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 03% và trong sự việc này bị hại cũng có một phần lỗi, vì vậy, xét thấy không thể áp dụng mức tối đa này cho bị hại. Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000 đồng tổn thất tinh thần cho bị hại là phù hợp nên chấp nhận.

Đối với phần yêu cầu của bị hại vượt quá là 50.000.000 đồng - 10.000.000 đồng = 40.000.000 đồng không được chấp nhận.

Tổng cộng, buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền là 9.642.446 đồng + 16.000.000 đồng + 10.000.000 đồng = 35.642.446 đồng. Do bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại để đảm bảo việc bồi thường cho bị hại trong giai đoạn thi hành án, vì vậy, sau khi khấu trừ số tiền đã nộp trước, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại số tiền là 25.642.446 đồng.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với hành vi của Nguyễn Xăm B dùng ly thủy tinh quơ, đánh trúng phía sau đôi mắt phải của H gây trầy xước nhẹ, Cơ quan điều tra đề nghị công an xã T, huyện B lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của Nguyễn Xăm B dùng xẻng đập vào xe ô tô biển số 71F-001.85 gây trầy xước nhẹ, Cơ quan điều tra đề nghị công an xã T, huyện B lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Xét lời luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về án phí:

  • - Buộc bị cáo phải chịu:
    • Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
    • Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 25.642.446 đồng x 5% = 1.282.122 đồng.
  • - Nguyễn Xăm B thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí (đối với phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe không được chấp nhận).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao;

Tuyên bố bị cáo Phan Tuấn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phan Tuấn C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/5/2025).

Giao bị cáo Phan Tuấn C cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của Luật Thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bao da bằng vải màu đen dài 57cm, rộng 7,5cm, phần vỏ bao lưỡi dài 4,5cm; 01 dao bầu dài 30cm, có cán bằng nhựa dài 12cm, lưỡi bằng kim loại, có 01 cạnh sắc bén dài 18cm; 01 xẻng bằng kim loại dài 90cm; 01 ly thủy tinh có quay cầm, có nhiều khía.

(Vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại ngày 10/4/2025).

Đối với con dao gây án, bị cáo khai đã vứt xuống con kênh gần hiện trường gây án, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ:

Buộc bị cáo Phan Tuấn C có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Xăm B số tiền là 35.642.446 (ba mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi sáu) đồng, trong đó 10.000.000 (mười triệu) đồng bị cáo đã nộp trước tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại theo biên lai thu số 0000195 ngày 14/5/2025 để đảm bảo việc bồi thường, vì vậy, bị cáo Phan Tuấn C còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Xăm B số tiền còn lại là 25.642.446 (hai mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi sáu) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với khoản tiền 25.642.446 (hai mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi sáu) đồng phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 12, 23, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phan Tuấn C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.282.122 (một triệu một trăm tám mươi hai nghìn một trăm hai mươi hai) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyễn Xăm B thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí (đối với phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe không được chấp nhận).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Bình Đại;
  • - Phân trại tạm giam khu vực huyện Bình Đại – Trại tạm giam Công an tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Đại;
  • - UBND xã Phú Long, huyện Bình Đại;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Bộ phận Thi hành án hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; VP; P.TT, KT&THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre về hình sự sơ thẩm (tội cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Tuấn C phạm "Tội cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger