|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-PT Ngày 16 - 4 - 2025 V/v tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và nợ chung; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Chí Dũng |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy |
| Bà Kiều Kim Xuân |
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2024/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và nợ chung; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 155/2024/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1978.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quang M, sinh năm 1981.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N1.
- Anh Lê Văn T, sinh năm 1982.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1976.
- Ông Bùi Sỉ T2, sinh năm 1974.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Quang M là bị đơn trong vụ án.
Địa chỉ: Số D, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị D: Anh Trần Thanh H, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số D, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quang M: Anh Đặng Chí H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ Hội sở: Số B, đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức danh: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Bích V1, chức vụ: Giám đốc A Chi nhánh huyện T.
Địa chỉ Chi nhánh: Số A, Quốc lộ C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thanh T1: Ông Bùi Sỉ T2, sinh năm 1974, Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh H, anh H1 có mặt; Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T, anh T, ông T2 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị D trình bày:
Về hôn nhân bà và ông Nguyễn Quang M tổ chức đám cưới vào năm 1998, không có đăng ký kết hôn, thời gian đầu sống chung hạnh phúc. Sau đó, phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông M không chăm lo cho gia đình và đánh đập bà nên ly thân từ tháng 01/2014 đến nay.
Về con chung: Trong thời gian sống chung với ông M có con là Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh ngày 14/3/2000, Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 02/10/2006 đã trưởng thành tự lao động sinh sống được.
Về tài sản chung: Trong thời gian sống chung với ông Nguyễn Quang M có tài sản chung sau:
Thửa đất 725, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.758m² (L), được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 14/6/2007 cho ông M. Sau đó, chuyển nhượng cho ông Bùi Sỉ T2 và bà Nguyễn Thị Thanh T1 nhưng chưa làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa đất 175, tờ bản đồ số 5, diện tích 4.454,1m² (L), được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 11/10/2019 cho ông M, đang cầm cố cho ông Bùi Sỉ T2 và bà Nguyễn Thị Thanh T1.
Thửa đất 725, 175 do ông T2 và bà T1 đang canh tác trồng lúa.
Thửa đất 13, tờ bản đồ số 36, diện tích 1.932,2m² (L), được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 27/11/2019 cho bà D và ông M. Hiện ông M cầm cố cho anh Lê Văn T đang canh tác trồng mía.
Đất cùng tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Nguồn gốc thửa đất 725, 175 của ông Nguyễn Văn L là cha ruột của ông M tặng cho bà D và ông M sau khi đám cưới, thửa đất 13 nhận chuyển nhượng của bà Huỳnh Thị Huỳnh H2 vào năm 2019.
Về nợ chung: Nợ Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T số tiền gốc 100.000.000 đồng vay vào năm 2014, trả được 25.000.000 đồng, còn nợ 75.000.000 đồng. Ngoài ra, không còn nợ ai khác.
Nay bà D yêu cầu ly hôn với ông M. Về con chung: Đã trưởng thành tự lao động sinh sống được không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung: Yêu cầu chia ½ thửa đất 13, trị giá 100.000 đồng/m² x 1.634m² (đo đạc thực tế) = 163.400.000 đồng; thửa đất 175, trị giá 80.000 đồng/m² x 4.454,1m² = 356.328.000 đồng, tổng cộng giá trị thửa đất 13, 175 là 519.728.000 đồng : 2 = 259.864.000 đồng. Bà D yêu cầu được quản lý, sử dụng thửa đất 13 và giao ông M quản lý, sử dụng thửa đất 175, ông M có trách nhiệm trả lại giá trị chênh lệch cho bà D 96.464.000 đồng. Bà D rút lại khởi kiện yêu cầu chia thửa đất 725, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.758m² (L). Về nợ chung: Bà D thống nhất tự nguyện trả ½ số tiền cố đất cho bà T1 80.000.000 đồng, trả ½ tiền nợ Ngân hàng 37.500.000 đồng và tiền lãi còn lại đến khi thanh toán xong số tiền nợ trên, đối với số tiền vay gốc, lãi ông M thanh toán cho Ngân hàng, do ông M lấy tiền cố đất của bà T1 trả gốc và lãi cho Ngân hàng từ năm 2014 đến nay, nên bà D không có nghĩa vụ trả lại số tiền gốc và lãi cho ông M, đối với thửa đất 13 do ông M cầm cố cho anh T, bà D không có yêu cầu anh T trả lại đất.
- Bị đơn ông Nguyễn Quang M trình bày:
Ông M thống nhất theo lời trình bày của bà Phạm Thị Diệu . Về hôn nhân: Không có đăng ký kết hôn và ly thân từ năm 2014 đến nay. Về con chung: Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh ngày 14/3/2000, Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 02/10/2006 đã trưởng thành tự lao động sinh sống được. Về tài sản chung: Thửa đất 13 là tài sản chung của ông M và bà D; thửa đất 725, 175 là tài sản riêng của ông M do cha ruột là ông Nguyễn Văn L tặng cho khi chưa chung sống với bà D. Đến ngày 03/7/2007 ông L ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông M. Về nợ chung: Thửa đất 13 cầm cố cho anh Lê Văn T với số tiền 100.000.000 đồng, hiện anh T đang canh tác; thửa đất 175 cầm cố cho bà Nguyễn Thị Thanh T1 và ông Bùi Sỉ T2 với số tiền 160.000.000 đồng, hiện bà T1, ông T2 đang canh tác lúa; thửa đất 725 đã chuyển nhượng cho ông Bùi Sỉ T2 và bà Nguyễn Thị Thanh T1 nhưng chưa ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Về nợ chung: Nợ Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T số tiền gốc 100.000.000 đồng vay vào năm 2014, đã thanh toán 25.000.000 đồng, còn nợ số tiền gốc 75.000.000 đồng.
Nay ông M thống nhất ly hôn với bà D. Về con chung: Đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung: Thống nhất chia ½ giá trị thửa đất 13, với số tiền 163.400.000 đồng, ông M yêu cầu nhận đất và trả giá trị chênh lệch cho bà D 81.700.000 đồng, không thống nhất chia ½ thửa đất 175, 725, vì đây là tài sản riêng do ông L cho trước khi chung sống với bà D, giá trị thửa đất 175 là 80.000 đồng/m². Về nợ chung: Thửa đất 175 cầm cố cho bà Nguyễn Thị Thanh T1 và ông Bùi Sỉ T2 với số tiền 160.000.000 đồng, trong đó trả tiền cố đất cho ông Nguyễn Hoàng Q 80.000.000 đồng và lấy 80.000.000 đồng trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng, trả số tiền gốc được 25.000.000 đồng, còn nợ số tiền gốc 75.000.000 đồng, ông M yêu cầu bà D cùng trả tiền cố đất cho bà T1 mỗi người 80.000.000 đồng, còn đối với thửa đất 13 cầm cố cho anh T, ông M không yêu cầu giải quyết.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1 và ông Bùi Sỉ T2 do ông T2 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà T1 là chị ruột của ông Nguyễn Quang M, vào ngày 28/7/2016 âl, ông M và bà Phạm Thị D có cầm cố phần đất diện tích 5.500m² (L) cho ông Nguyễn Hoàng Q, với số tiền 80.000.000 đồng, thuộc thửa đất 175, đến ngày 28/7/2018 hết thời hạn cố đất, do ông M và bà D không có tiền chuộc lại đất nên bà T1 đưa 80.000.000 đồng trả cho ông Q để nhận lại đất canh tác. Ngoài ra, ông M không có tiền trả Ngân hàng nên đưa thêm 80.000.000 đồng, tổng cộng ông M và bà D nhận số tiền cố đất 160.000.000 đồng.
Nay bà T1 yêu cầu ông M, bà D mỗi người trả lại số tiền 80.000.000 đồng, thống nhất trả lại phần đất cầm cố thửa đất 175 cho ông M, bà D. Bà T1 xin rút lại yêu cầu ông M, bà D chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 725.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn T trình bày:
Vào ngày 03/6/2023 anh T có nhận cố đất của ông Nguyễn Quang M diện tích khoảng 2.000m², thửa đất 13, với số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn cố đất 04 năm, có làm Tờ cố đất. Anh T không yêu cầu ông M, bà D trả lại số tiền cố đất 100.000.000 đồng, do chưa hết thời hạn cố đất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T trình bày:
Căn cứ hợp đồng tín dụng, hồ sơ bảo đảm tiền vay của ông Nguyễn Quang M, ông M đang thực hiện đúng theo các thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng và nhận thấy ông M có khả năng thực hiện đúng các thỏa thuận, nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng. Đồng thời, nội dung tranh chấp trong vụ án không ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng không có ý kiến.
Tại quyết định bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 155/2024/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử:
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Quang M.
- Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh ngày 14/3/2000 và cháu Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 02/10/2006, đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà Phạm Thị Diệu đối V2 ông Nguyễn Quang M.
- Về nợ chung: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà Phạm Thị D, ông Nguyễn Quang M và bà Nguyễn Thị Thanh T1 về việc cầm cố quyền sử dụng đất.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của bà Phạm Thị D và yêu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà Nguyễn Thị Thanh T1 đối với thửa đất số 725, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.758m² (L), tọa lạc xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/6/2007 cho ông Nguyễn Quang M.
- Về chi phí tố tụng:
- Về án phí hôn nhân gia đình, án phí chia tài sản chung và án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Quang M phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006899, ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Chia và giao cho bà Phạm Thị D được quyền sử dụng thửa đất số 13, tờ bản đồ số 36, diện tích 1.932,2m² (thực đo 1.634m²), loại đất: Lúa, tọa lạc xã A, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/11/2019 cho ông Nguyễn Quang M, bà Phạm Thị D (Từ mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8 về mốc M1).
Chia và giao cho ông Nguyễn Quang M được quyền sử dụng thửa đất số 175, tờ bản đồ số 5, diện tích 4.454,1m² (L), tọa lạc xã A, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận ngày 11/10/2019 cho ông Nguyễn Quang M (Từ mốc M1, M2, M3, M4, M5 về mốc M1).
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình; Sơ đồ đo đạc ngày 30/01/2024 của Công ty D1).
Bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Quang M được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục tách, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Quang M có trách nhiệm thanh toán phần chênh lệch giá trị tài sản chung bà Phạm Thị D số tiền 96.464.000 đồng (Chín mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bà Phạm Thị D có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 80.000.000 đồng.
Ông Nguyễn Quang M có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 80.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bà Nguyễn Thị Thanh T1 và ông Bùi Sỉ T2 có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Quang M thửa đất số 175, tờ bản đồ số 5, diện tích 4.454,1m² (L), tọa lạc xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/10/2019 cho ông Nguyễn Quang M.
Nguyên đơn bà Phạm Thị D phải chịu chi phí tố tụng 4.495.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng), bà D đã nộp và chi xong.
Bị đơn ông Nguyễn Quang M phải chịu chi phí tố tụng 4.495.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng) do bà Phạm Thị D đã nộp và chi xong, nên ông M có trách nhiệm trả lại cho bà D số tiền 4.495.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1 không phải chịu chi phí tố tụng.
Bà Phạm Thị D phải chịu 13.293.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004313, ngày 14/11/2023 và 7.375.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006002, ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Bà D phải nộp tiếp số tiền 5.618.000 đồng (Năm triệu sáu trăm mười tám nghìn đồng) án phí sơ thẩm.
Ông Nguyễn Quang M phải chịu 12.993.000 đồng (Mười hai triệu chín trăm chín mươi ba nghìn đồng) án phí sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Thanh T1 không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn trả cho bà T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.300.000 đồng (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006593, ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Dững |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và nợ chung; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và nợ chung; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị D - Nguyễn Quang M
