Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày 04 - 4 - 2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thu Trang

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Ngân

2. Bà Vũ Thị Hoà

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 301/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lưu Thanh T - Sinh năm 1979
    Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Anh Trần Quốc Q - Sinh năm 1978
    Nơi ĐKHKTT: Tổ 35, phường Ngọc Thuỵ, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
    Nơi ở: Tổ 10, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lưu Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q đăng ký kết hôn ngày 28/12/2025 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra việc đánh cãi chửi nhau. Anh Q nghiện rượu nên thường xuyên uống rượu say về chửi mắng vợ con và anh Q còn thường xuyên mâu thuẫn với con riêng của chị T, đuổi con riêng của chị T ra khỏi nhà. Trước đây chị T đã ra ngoài ở riêng được 02 năm sau đó lại quay về cho anh Q cơ hội nhưng chỉ được một thời gian ngắn anh Q lại chứng nào tật đấy không chịu thay đổi. Anh chị đã cùng nhau viết đơn yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai công nhận thuận tình ly hôn vào tháng 12/2024 nhưng sau đó chị T lại tiếp tục cho anh Q cơ hội nên anh chị đã rút đơn về. Tuy nhiên sau đó anh chị lại mâu thuẫn trầm trọng hơn nữa, chị T đã dọn về nhà riêng của chị sinh sống, chị T không còn ở chung nhà với anh Q nữa, anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 12/2024 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không cải thiện được. Đến nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quốc Q.

Về con chung: Thời gian chung sống chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q có 01 con chung là cháu Trần Quỳnh C - Sinh ngày 17/4/2018. Khi ly hôn chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trần Quỳnh C đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị T yêu cầu anh Trần Quốc Q phải cấp dưỡng nuôi cháu Trần Quỳnh C cùng chị là 3.000.000 đồng/tháng. Hiện nay chị T đang làm giáo viên tại Trường Tiểu học B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, thu nhập bình quân khoảng 17.200.000 đồng/tháng .

Về tài sản: Chị Lưu Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Quốc Q: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt nhưng anh Trần Quốc Q thường xuyên đi làm, đêm mới về nhà nên Tòa án đã không tống đạt trực tiếp được cho anh Trần Quốc Q. Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Trần Quốc Q theo đúng quy định nhưng anh Trần Quốc Q không có văn bản trả lời và cũng không đến Toà án làm bản tự khai, tiếp cận công khai chứng cứ. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử và tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Quốc Q.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về hôn nhân: Xử cho chị Lưu Thanh T được ly hôn với anh Trần Quốc Q. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao cháu Trần Quỳnh C - Sinh ngày 17/4/2018 cho chị Lưu Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Trần Quỳnh C đủ 18 tuổi. Anh Trần Quốc Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Quỳnh C cùng chị Lưu Thanh T là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu Trần Quỳnh C đủ 18 tuổi. Anh Trần Quốc Q có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lưu Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quốc Q và giải quyết việc nuôi con chung giữa anh chị, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Trần Quốc Q hiện nay đang cư trú tại tổ A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án đúng quy định nhưng anh Trần Quốc Q không đến Toà án làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Nguyên đơn chị Lưu Thanh T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, do vậy đây là vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ Luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lưu Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Quốc Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q đăng ký kết hôn ngày 28/12/2025 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện do đó hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Về mâu thuẫn vợ chồng thì chị Lưu Thanh T cho rằng sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra việc đánh cãi chửi nhau, anh Trần Quốc Q thường xuyên uống rượu say rồi chửi mắng vợ con, anh Q còn có mâu thuẫn với con riêng của chị T. Tháng 12/2024 anh chị đã làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, sau đó anh chị cho nhau cơ hội về đoàn tụ nhưng chỉ được một thời gian vợ chồng lại mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình giải nhiều lần nhưng vẫn không cải thiện được. Anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 12/2024 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Tại biên bản xác minh ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai đã xác định trong thời gian chung sống giữa chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q có xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thương xuyên cãi chửi nhau, hiện nay anh chị đã sống ly thân nhau, chị Lưu Thanh T và con chung của anh chị đã chuyển về sinh sống tại tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai sinh sống. Nội dung xác minh của Tòa án phù hợp với lời khai của chị Lưu Thanh T và tài liệu chứng cứ thu thập được. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, giữa vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lưu Thanh T đối với anh Trần Quốc Q.

[2.2] Về con chung: Thời gian chung sống chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q có 01 con chung là cháu Trần Quỳnh C - Sinh ngày 17/4/2018. Khi ly hôn chị Lưu Thanh T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trần Quỳnh C cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị Lưu Thanh T không yêu cầu anh Trần Quốc Q phải cấp dưỡng nuôi cháu Trần Quỳnh C cùng chị là 3.000.000 đồng/tháng.

Quá trình giải quyết vụ án, theo lời khai cùng tài liệu chứng cứ do chị Lưu Thanh T cung cấp và nội dung xác minh của Tòa án đã xác định được: Hiện nay chị Lưu Thanh T đang làm đang làm giáo viên tại Trường Tiểu học B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, thu nhập của chị bình quân khoảng 17.200.000 đồng/tháng, anh Trần Quốc Q làm việc tại Công ty TNHH Một thành viên H. Ngày 11/02/2025 Toà án nhân dân thành phố Lào Cai đã tiến hành xác minh về điều kiện sống, mức thu nhập của chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q, qua đó đã xác định hiện nay anh chị đều có nơi ở ổn định, chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q có công việc ổn định và có thu nhập. Từ khi anh chị sống ly thân, cháu Trần Quỳnh C ở với chị Lưu Thanh T, do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Quốc Q không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn của chị Lưu Thanh T. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Trần Quỳnh C cho chị Lưu Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Trần Quốc Q có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do Hội đồng xét xử giao cháu Trần Quỳnh C cho chị Lưu Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và xét thấy anh Trần Quốc Q hiện nay đang có công việc và thu nhập nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lưu Thanh T về việc anh Trần Quốc Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Quỳnh C cùng chị T là 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Trần Quỳnh C đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Lưu Thanh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn; Anh Trần Quốc Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Quỳnh C - Sinh ngày 17/4/2018 cho chị Lưu Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Trần Quỳnh C đủ 18 tuổi. Anh Trần Quốc Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Quỳnh C cùng chị Lưu Thanh T là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu Trần Quỳnh C đủ 18 tuổi. Anh Trần Quốc Q có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về án phí: Chị Lưu Thanh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, xác nhận chị Lưu Thanh T đã nộp đủ tiền án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001054 ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai; Anh Trần Quốc Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
  2. Về quyền kháng cáo: Chị Lưu Thanh T và anh Trần Quốc Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND TP;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP;
  • - UBND phường Bắc Lệnh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger