TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày 03-4-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ngọc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Anh Cư và bà Hoàng Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tú Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Hồ Xê Y N, sinh ngày 18/7/2002, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Bru-Vân Kiều; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Cấm P, sinh năm 1981 và bà Hồ Thị T, sinh năm 1979; Bị cáo sống chung với chị Hồ Thị H (không đăng ký kết hôn) và có 01 con chung sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Hồ Văn D, sinh ngày 01/01/1996, tại huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Thôn K, xã L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Pa Cô; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn V, sinh năm 1944 và bà Hồ Thị M, sinh năm 1958; Vợ Hồ Thị L, sinh năm 1995 (đã ly hôn năm 2018); Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.
Bị hại: Anh Hồ Văn D1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.
Người làm chứng:
Bà Hồ Thị T1, sinh năm: 1999; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.
Bà Hồ Thị T, sinh năm: 1979; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.
Ông Nguyễn Lương T2, sinh năm: 1959; Nơi cư trú: Khu phố E, phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.
Người phiên dịch: Ông Hồ Quốc P1, nơi cư trú: K, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 02 năm 2024, Hồ Xê Y N và anh Hồ Văn D1 cùng làm tại công trình xây dựng ở thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Quá trình làm việc, chủ thầu nói với N là anh D1 báo cho chủ thầu biết việc N lấy trộm sắt công trình, bắt Núc đền số tiền 20.000.000 đồng và đuổi việc N.
Sáng ngày 23/4/2024, chị gái của N là chị Hồ Thị T1 hẹn hai người bạn của chị T1 là Hồ Văn D và một thanh niên tên T3 (quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch) đến nhà ở thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị chơi. Khoảng 10 giờ cùng ngày T3 đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì D đến. Khi D đến, cả bốn người ngồi chơi ở bếp của gia đình Núc khoảng 10 - 20 phút sau thì N, D và T3 tổ chức nhậu tại nhà bếp, còn chị T1 lên nhà sàn ngồi. Khoảng 15 giờ cùng ngày, N nghe tiếng mẹ của mình là Hồ Thị T nói chuyện điện thoại. Do bố của N là ông Hồ Văn Cấm P hiện đang làm tại công trình xây dựng Khu bảo tồn thiên nhiên B (Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị), hàng ngày hay điện video cho mẹ của N xem công việc của mình nên N đi từ nhà bếp lên nhà sàn nơi bà T đang ngồi để nói chuyện cùng bố. Qua màn hình điện thoại, N nhìn thấy anh Hồ Văn D1 nên biết anh D1 đang cùng làm tại công trình với bố mình, N nảy sinh ý định đi tìm anh D1 để giải quyết mâu thuẫn trước đó.
Núc đi xuống nhà bếp nhờ D chở mình đến xã H, huyện H tìm việc làm thì D đồng ý. D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, số khung RLHJA3932PPY145245, số máy JA70E0213007, biển kiểm soát 74AH - 043.76 chở N đi từ nhà N đến tượng đài chiến thắng Khe S, theo đường H nhánh Tây để đến xã H.
Khi nhìn thấy D và N rời khỏi nhà, chị T1 hỏi bà T nhưng bà T không biết D và N đi đâu. Chị T1 sợ chuyện không hay nên nhờ T3 chở mình đuổi theo D và N.
Khi D chở N đến trước công trình xây dựng Khu bảo tồn thiên nhiên B thì D dừng xe đứng đợi bên ngoài, N một mình đi vào sân công trình thì nhìn thấy anh D1 đang chạy máy uốn sắt (cách vị trí D đứng khoảng 150m). Núc đi đến đứng đối diện anh D1, lấy mũ bảo hiểm đang đội trên đầu cầm ở tay đánh 01 cái trúng vào đầu anh D1 rồi yêu cầu anh D1 tắt máy uốn sắt nhưng anh D1 không tắt nên N tự tắt rồi hỏi anh D1 vì sao nói với chủ đầu tư là Núc trộm sắt nhưng anh D1 không trả lời; N hỏi anh D1 đến 2 -3 lần thì anh D1 mới trả lời “D1 không nói”, N hỏi “Răng thầu nói mi nói”. Lúc này, anh D1 không tiếp tục trả lời nữa nên N kéo anh D1 ra đường nơi D đang đứng, yêu cầu anh D1 lên xe nhằm mục đích đưa về nhà để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn nhưng anh D1 không chịu lên xe.
Quá trình D đứng đợi N thì thấy N đánh và kéo anh D1 ra nên định quay xe bỏ đi. Thấy vậy, N nói “Chở N đi thì phải chở N về” thì D trả lời “Răng cả thằng ni nữa”, N nói “Công việc của em, chừ lỡ rồi thì giúp em chở hắn về luôn” thì D đồng ý và nói “Chở một đoạn thôi”. Lúc này, T3 chở chị T1 vừa đến nơi, T3 dừng xe đứng đợi, chị T1 đến can ngăn Núc nhưng N không nghe mà dùng tay phải tát vào mặt anh D1 01 cái làm anh D1 ngã xuống đất. Sau đó N kéo anh D1 dậy tiếp tục yêu cầu anh D1 lên xe nhưng anh D1 vẫn không chịu lên xe nên N nhặt 01 thanh gỗ hình trụ tròn, loại gỗ khô dài 70cm trên mặt đường đe doạ anh D1 rồi dùng hai tay anh D1 lên xe ngồi phía sau lưng D, N ngồi lên xe phía sau lưng anh D1. Sau đó, D điều khiển xe chở anh D1 và N quay trở lại xã H theo đường cũ; T3 chở chị T1 đuổi theo phía sau nhưng do D điều khiển xe quá nhanh nên T3 và chị T1 không theo kịp.
Trên đường đi, N dùng hai tay đánh vào khoảng 04 - 05 cái vào mặt anh D1, vừa đánh vừa hỏi lý do vì sao nói với chủ thầu Núc trộm sắt của công trình, do sợ nên anh D1 ngồi im không chống cự, không trả lời N. Khi đến đoạn đồi ở thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (cách nhà N khoảng 03 - 04km) thì D dừng xe, đuổi N và D1 xuống xe rồi bỏ đi. Khi D vừa quay xe đi thì T3 vừa chở chị T1 đến, N nhờ T3 chở N và anh D1 về nhà nhưng chị T1 can ngăn và không cho T3 chở. Lúc này, N doạ T3 “Không chở thì không cho về nhà T3 nữa nghe” nên T3 để chị T1 lại, chở N và anh D1 về nhà N, sau đó T3 quay trở lại chở chị T1 về nhà rồi bỏ đi.
Khi N về đến nhà, trong nhà chỉ có bà T đang ngủ trên nhà sàn, do anh D1 không đồng ý vào nhà cùng N nên N khống chế kéo anh D1 vào phòng ngủ của vợ chồng N, bắt anh Dương Q trên sàn phòng ngủ, Núc ngồi trên giường đối diện D1, dùng tay tát 01 cái vào mặt anh D1 và tiếp tục tra hỏi lý do nhưng anh D1 không trả lời. Núc lấy 01 lưỡi dao bằng sắt chiều dài 35cm, không có cán để ở gầm giường ngủ của mình cầm ở tay phải dí vào cổ anh D1 thì anh D1 nói “Xin lỗi”. Núc hỏi “Răng mà nói xin lỗi, răng N hỏi không nhận mà nói xin lỗi?” rồi N đưa lưỡi dao trước đó đang cầm ở tay phải chuyển sang cầm ở tay trái, cúi xuống gầm giường lấy 01 con dao dài 20cm, cán dao làm bằng nhựa P2 màu xanh ở tay phải rồi nói “Có biết họ đánh đập tôi, bắt tôi đền tiền không, có tiền thì đền cho tôi” thì anh D1 trả lời “Đền mấy tiền để tôi trả”, N nói “Hai mươi triệu đồng, có trả được không thì trả luôn”, do không đủ tiền nên xin Núc mấy ngày để thu xếp đủ rồi trả cho N thì N nói “Tôi không cần nữa”.
Quá trình N nhốt anh D1 trong phòng ngủ, bà T thức dậy nghe tiếng ồn ào nên tưởng N và vợ cãi nhau, bà T đến đập cửa phòng nhưng N nói không có chuyện gì hết nên bà T quay trở lại ngồi trên nhà sàn. Khoảng 20 phút sau chị T1 về đến nhà, đến cửa phòng gọi nhưng N không mở nên chị T1 gọi bà T, vì muốn N mở cửa ra để xem bên trong nên bà T đứng trên nhà sàn nói to “Công an đến tìm”. Lúc này, N mở cửa đưa anh D1 ra ngoài, lấy xe mô tô biển kiết soát 74H1 - 292.59 của ông Hồ Văn C Phò để ở sân nhà chở anh D1 ra sân vận động huyện H để anh D1 lại đó rồi quay trở về nhà ngủ. Sau đó, anh D1 đến Công an xã H trình báo.
Qua điều tra xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, số khung RLHJA3932PPY145245, số máy JA70E0213007, biển kiểm soát 74AH - 043.76 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Hồ Văn G, sinh năm 1997, trú tại thôn K, xã L, huyện H, tỉnh Quảng Trị (em trai của Hồ Văn D). Từ tháng 01/2024, anh G đi làm công nhân tại tỉnh Bình Dương nên giao xe mô tô nói trên cho bố mình là ông Hồ Văn V, sinh năm 1944 quản lý. Ngày 23/4/2024, D tự ý lấy xe mô tô và điều khiển đến nhà chị T1, ông V và anh G không biết D điều khiển xe mô tô đi đâu, làm gì, không liên quan đến hành vi phạm tội của Hồ Văn D.
Xe mô tô biển kiểm soát 74H1- 292.59 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Hồ Văn Cấm P, ngày 23/4/2024 ông P đi làm công trình xây dưng tại xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị nên để xe mô tô ở sân nhà, chìa khoá cắm ở ổ khoá điện. Sau khi N đưa anh D1 ra khỏi phòng ngủ của mình, nhìn thấy xe mô tô của ông P nên tự ý lấy và điều khiển chở D1 ra sân vận động huyện H, để D1 lại ở đó rồi quay về nhà để xe lại vị trí cũ rồi đi ngủ, ông P không biết việc N điều khiển xe mô tô của mình đi đâu, làm gì, không liên quan đến hành vi phạm tội của N.
Đối với hành vi gây thương tích cho anh Hồ Văn D1: Ngày 31/12/2024, anh D1 có đơn từ chối giám định pháp y thương tích và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKSHH ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Hồ Xê Y N và Hồ Văn D về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hồ Xê Y N và Hồ Văn D phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Căn cứ khoản 1 Điều 157; Điều 17; điểm d khoản 1 Điều 52; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Xê Y N từ 09 đến 15 tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 157; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Văn D từ 06 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu huỷ 01 thanh gỗ dạng trụ tròn, có chiều dài 70cm, có đường kính 07cm, hình dạng không đồng đều, loại gỗ khô mục; 01 lưỡi dao bằng kim loại (sắt) có chiều dài là 35cm, một đầu nhọn, sắc một cạnh, không có cán, chiều rộng là 03cm; 01 con dao dài 20cm, cán làm bằng nhựa P2 màu xanh, đường kính cán dao 26cm, chiều rộng 03cm, một đầu nhọn, sắc một cạnh và 01 mũ bảo hiểm màu trắng, loại mũ lưỡi trai, bằng nhựa.
Qua điều tra xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, số khung RLHJA3932PPY145245, số máy JA70E0213007, biển kiểm soát 74AH - 043.76 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Hồ Văn G, sinh năm 1997, trú tại thôn K, xã L, huyện H, tỉnh Quảng Trị (em trai của Hồ Văn D). Từ tháng 01/2024, anh G đi làm công nhân tại tỉnh Bình Dương nên giao xe mô tô nói trên cho bố mình là ông Hồ Văn V, sinh năm 1944 quản lý. Ngày 23/4/2024, D tự ý lấy xe mô tô và điều khiển đến nhà chị T1, ông V và anh G không biết D điều khiển xe mô tô đi đâu, làm gì, không liên quan đến hành vi phạm tội của Hồ Văn D.
Xe mô tô biển kiểm soát 74H1- 292.59 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Hồ Văn Cấm P, ngày 23/4/2024 ông P đi làm công trình xây dưng tại xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị nên để xe mô tô ở sân nhà, chìa khoá cắm ở ổ khoá điện. Sau khi N đưa anh D1 ra khỏi phòng ngủ của mình, nhìn thấy xe mô tô của ông P nên tự ý lấy và điều khiển chở D1 ra sân vận động huyện H, để D1 lại ở đó rồi quay về nhà để xe lại vị trí cũ rồi đi ngủ, ông P không biết việc N điều khiển xe mô tô của mình đi đâu, làm gì, không liên quan đến hành vi phạm tội của N.
Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Xê Y N và Hồ Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Hồ Xê Y N và Hồ Văn D trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/4/2024 tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, Hồ Xê Y N đã có hành vi bắt anh Hồ Văn D1 đưa lên xe mô tô biển kiểm soát 74AH-043.76 do Hồ Văn D điều khiển, Hồ Văn D mặc dù thấy hành vi trái pháp luật của Hồ Xê Y N đối với anh Hồ Văn D1 nhưng vẫn đồng ý chở giúp đến thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì D bỏ đi. Sau đó, Hồ Xê Y N nhờ thanh niên tên T3 chở về nhà rồi giữ D1 trong phòng ngủ của Núc để giải quyết mâu thuẫn. Hành vi trên của Hồ Xê Y N và Hồ Văn D đã cấu thành tội “Bắt giữ người trái pháp luật”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội Hội đồng xét xử thấy rằng, đây là vụ án đồng phạm nhưng chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Hồ Xê Y N là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực. Còn bị cáo Hồ Văn D là người tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức. Do đó cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hồ Xê Y N không có mâu thuẫn gì lớn đối với bị hại anh Hồ Văn D1 nhưng có hành vi dùng vũ lực, đe doạ bắt giữ người trái pháp luật nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Riêng bị cáo Hồ Xê Y N đã bồi thường cho bị hại anh Hồ Văn D1 số tiền 5.000.000 đồng; gia đình thuộc hộ cận nghèo nên bị cáo Hồ Xê Y N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Hồ Văn D gia đình thuộc hộ nghèo, bố là thương binh, bị cáo đang nuôi 03 con nhỏ và là lao động chính trong gia đình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ, hậu quả pháp lý, vai trò của từng bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Hồ Xê Y N có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Có tính chất côn đồ” nên cần xem xét mức hình phạt cao hơn bị cáo D là phù hợp và cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo Hồ Văn D, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và phạm tội với vai trò thứ yếu nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Xét bị cáo Hồ Văn D là lao động chính trong gia đình, có hộ nghèo, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[6] Tiếp tục thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cú trú đối với bị cáo Hồ Xê Y N để đảm bảo cho việc thi hành án.
Bị cáo Hồ Văn D đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bị xử phạt cải tạo không giam giữ. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự để hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 thanh gỗ dạng trụ tròn, có chiều dài 70cm, có đường kính 07cm, hình dạng không đồng đều, loại gỗ khô mục; 01 lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài là 35cm, một đầu nhọn, sắc một cạnh, không có cán, chiều rộng là 03cm; 01 con dao dài 20cm, cán làm bằng nhựa P2 màu xanh, đường kính cán dao 26cm, chiều rộng 03cm,một đầu nhọn, sắc một cạnh và 01 mũ bảo hiểm màu trắng, loại mũ lưỡi trai, bằng nhựa của Hồ Xê Y N là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác của vụ án:
Đối với hành vi gây thương tích cho anh Hồ Văn D1: Ngày 31/12/2024 anh D1 có đơn từ chối giám định pháp y thương tích và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với hành vi giúp sức của thanh niên tên T3, cơ quan điều tra đã tiến hành hết các hoạt động điều tra cần thiết nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch.
Đối với bà Hồ Thị T, ông Hồ Văn Cấm P, chị Hồ Thị T1 và ông Hồ Văn V không liên quan đến việc phạm tội của các bị cáo nên không phải chịu trách nhiệm pháp lý.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Xê Y N và Hồ Văn D phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; điểm d khoản 1 Điều 52; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Xê Y N 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Văn D 06 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Q nhận được Quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Hồ Văn D.
Giao bị cáo Hồ Văn D cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Hồ Văn D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
2. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 04/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 thanh gỗ dạng trụ tròn, có chiều dài 70cm, có đường kính 07cm, hình dạng không đồng đều, loại gỗ khô mục; 01 lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài là 35cm, một đầu nhọn, sắc một cạnh, không có cán, chiều rộng là 03cm; 01 con dao dài 20cm, cán làm bằng nhựa P2 màu xanh, đường kính cán dao 26cm, chiều rộng 03cm, một đầu nhọn, sắc một cạnh và 01 mũ bảo hiểm màu trắng, loại mũ lưỡi trai, bằng nhựa của Hồ Xê Y N.
Vật chứng hiện đang có tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Hồ Xê Y N và Hồ Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (03/4/2025); Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |
7
8
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ về bắt, giữ người trái pháp luật
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Bắt, giữ người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn N cùng đồng phạm "Bắt giữ người trái pháp luật"
