Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ GIÁ RAI

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày 02 tháng 4 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Cung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Nhạn

Bà Cao Thị Mỹ Phượng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trần Công Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Mộng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN HOÀNG T; sinh ngày 04/9/2001; tại tỉnh Bạc Liêu;

Nơi cư trú: ấp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hùng D, sinh năm 1965 (chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1967; Vợ: Nguyễn Ngọc Hải Đ, sinh năm 2002; con: Nguyễn Ngọc Kim T1, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị khởi tố và tạm giam từ ngày 22/7/2024 cho đến nay. (Có mặt).

Bị hại: Chị Trần Vi V, sinh ngày 07/6/2005;

Địa chỉ: ấp N, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Bà Trần Bé L, sinh năm 1987;

Địa chỉ: ấp N, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ việc Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 04/9/2001 có mối quan hệ tình cảm yêu đương với cháu Trần Vi Vi S ngày 07/6/2005, nên Nguyễn Hoàng T có hành vi ba lần giao cấu với cháu Trần Vi V cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào thời gian đầu năm 2018, Nguyễn Hoàng T và Trần Vi V, cùng nhau đến nhà mẹ nuôi của Nguyễn Hoàng T tên H1 (không rõ họ tên cụ thể) tại tỉnh Hậu Giang chơi (không xác định địa chỉ cụ thể). Đến tối, cả hai ngủ cùng nhau tại phòng ngủ nhà bà H1, đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Hoàng T thực hiện hành vi giao cấu với cháu V một lần.

Lần thứ 2: Vào khoảng 09 giờ ngày 28/10/2019, Trần Vi V có đến nhà của Nguyễn Hoàng T thuộc ấp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Lúc này do không có ai ở nhà thì T hỏi V cho T quan hệ tình dục thì V đồng ý, nên cả hai vào bên trong phòng ngủ nhà T để quan hệ tình dục với nhau một lần.

Lần thứ 3: Vào khoảng 14 giờ, ngày 04/11/2019, tại khu vực nhà vệ sinh của nhà thờ T2, thuộc ấp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo T thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu V một lần.

Tại kết luận giám định pháp y về tình dục số: 03/TD ngày 08/01/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Trần Vi V như sau:

  • Màng trinh rách cũ ở vị trí 01 giờ, 06 giờ, 11 giờ.
  • Tại thời điểm giám định Trần Vi V có thai khoảng 9.1 tuần.

Tại kết luận giám định số: 924/KL-KTHS ngày 10/02/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Phân tích ADN từ mẫu mô nghi là mô thai nhi thu trong tử cung của Trần Vi V được kiểu gen hoàn chỉnh của một nữ giới và trùng với kiểu gen của Trần Vi V. Không phát hiện kiểu gen khác từ mẫu mô này.

Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại chưa có yêu cầu, nên đề nghị tách phần trách nhiệm dân sự giải quyết trong vụ án khác khi họ có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã G; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp người bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Tại phiên tòa bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại đã có lời khai, do vậy việc vắng mặt của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp bị hại, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã G lập cùng những chứng cứ, tài liệu khác được thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án. Từ đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của bản thân và lợi dụng sự phát triển chưa đầy đủ về tâm, sinh lý của bị hại nên vào ngày 28/10/2019 và ngày 04/11/2019 được sự đồng ý của Trần Vi V, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục với Trần Vi V trong khi V chưa đủ 16 tuổi. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T đã phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự nên Cáo trạng số: 09/CT-VKS-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.

[2.2] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của Trần Vi V trong hiện tại, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất cũng như tâm, sinh lý của V sau này, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương.

[2.3] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[2.4]. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại hiện tại không có mặt tại địa phương, không xác định được địa chỉ hiện tại đang ở đâu, trong quá trình điều tra họ chưa có yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử tách phần trách nhiệm dân sự để giải quyết bằng vụ án dân sự khi họ có yêu cầu.

Đối với lần quan hệ tình dục vào khoảng cuối năm 2018 tại đại bàn tỉnh Hậu Giang, Nguyễn Hoàng T chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 145 Bộ luật hình sự, nên Cơ quan điều tra không đề cặp xử lý là có căn cứ.

[2.5] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”;

    Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Tách phần trách nhiệm dân sự để giải quyết bằng vụ án dân sự khi bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND thị xã Giá Rai;
  • - Chi cục THADS Giá Rai;
  • - Bị cáo, bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Văn Cung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU về vụ án hình sự (giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo thực hiện hành vi giao cấu với bị hại chưa đủ 16 tuổi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger