|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 01/4/2025
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Thái;
- Bà Nguyễn Thị Lệ .
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoang Huynh – là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 474/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có đơn vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Trần Thị Kim T: Luật sư: Ông Nguyễn Văn H – Luật sư của Văn phòng L – Chi nhánh M thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Địa chỉ: Ấp P, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Bị đơn: Anh Lê Văn H1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Tổ E, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Kim T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H1 tự tìm hiểu quen biết nhau và sau đó được sự đồng ý của cha mẹ hai bên dẫn đến kết hôn, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2006 (theo giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 29/6/2006 do tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre cấp cho Lê Văn H1 và Trần Thị Kim T). Cuộc sống vợ chồng từ khi kết hôn đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh H1 uống rượu, cờ bạc, không chịu làm ăn, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm và cãi nhau, đã không còn chung sống với nhau từ năm 2024 đến nay, nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn chung sống với nhau được nên xin ly hôn với anh Lê Văn H1.
- Về con chung: Chị T và anh H1 có 01 (một) con chung tên Lê Trần Minh N, sinh ngày 19/12/2006, hiện cháu N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Trong quá trình tố tụng bị đơn anh Lê Văn H1 trình bày và có ý kiến:
- Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất như lời trình bày trên của chị T về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật và thời gian không còn chung sống nhau. Kể từ khi kết hôn nhau vợ, chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn và không còn chung sống nhau cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh H1 có uống rượu và cãi nhau với chị T do bất đồng quan điểm nên chị T yêu cầu ly hôn với anh H1. Nay, anh H1 không đồng ý ly hôn với chị T, yêu cầu Tòa án hòa giải cho vợ chồng được hàn gắn đoàn tụ.
- Về con chung: Anh H1 và chị T có 01 (một) con chung tên Lê Trần Minh N, sinh ngày 19/12/2006, hiện cháu N đang sống với chị T, anh H1 để con quyết định muốn sống với cha hay mẹ khi anh H1 và chị T ly hôn.
Ngày 21/01/2025, tại Tòa án cháu Lê Trần Minh N trình bày ý kiến: Cháu N có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Trần Thị Kim T khi cha mẹ cháu ly hôn.
Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 40/TB-TA ngày 21/01/2025 và các văn bản tố tụng khác cho anh Lê Văn H1 nhưng anh H1 vắng mặt tham gia tố tụng tại Tòa án và không cung cấp văn bản ý kiến phản hồi cho Tòa án và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
Tại phiên tòa, anh H1 vắng mặt; chị T xác định, giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh H1; về nuôi con chung do cháu Lê Trần Minh N, sinh ngày 19/12/2006 (đã trưởng thành) chị T không yêu cầu Tòa án xem xét; về tài sản chung và nợ không có.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Thống nhất về nội dung vụ án như chị T trình bày trong quá trình tố tụng, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48; Điều 203; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Văn H1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim T được ly hôn với anh Lê Văn H1.
- Về con chung: Chị Trần Thị Kim T và anh Lê Văn H1 có 01 (một) con chung Lê Trần Minh N, sinh ngày 19/12/2006 (đã trưởng thành).
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Kim T trình bày không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Kim T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Kim T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn H1 có địa chỉ cư trú tại: Tổ E, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh lê Văn H1 đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H1 có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn 47 ngày 29/6/2006 do tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre cấp cho Lê Văn H1 và Trần Thị Kim T. Hôn nhân giữa chị T và anh H1 là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Chị T khai, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022, nguyên nhân do không hợp nhau, thường xuyên cự cãi xung đột nhau, mâu thuẫn kéo dài, vợ chồng thường bất đồng quan điểm, nên đã không còn chung sống với nhau từ năm 2024 đến nay, không thể hàn gắn chung sống với nhau được nên xin được ly hôn với anh Lê Văn H1.
Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho chị T và anh H1 hàn gắn tình cảm, nhưng anh H1 vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tình trạng vợ chồng chị T và anh H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì không thể xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho chị Trần Thị Kim T ly hôn với anh Lê Văn H1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về con chung: Chị T và anh H1 có 01 (một) con chung tên: Lê Trần Minh N, sinh ngày 19/12/2006 (đã trưởng thành). Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét.
[3] Về tài sản và nợ chung: Chị Trần Thị Kim T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
[4] Về án phí: Chị Trần Thị Kim T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[5] Xét lời bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn của Luật sư: Luật sư xác định quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn là có căn cứ. Về nội dung, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[6] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim T được ly hôn với anh Lê Văn H1.
2 Về án phí: Chị Trần Thị Kim T chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008895 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chị Trần Thị Kim T đã nộp đủ án phí. Anh Lê Văn H1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Kim T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Văn H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
5 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Dẫm |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 18 ngày 01/4/2025
