|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27/3/2025 V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Văn Út;
- Ông Nguyễn Văn Kim.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 26/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: chị Nguyễn Thanh V, sinh năm: 2000;
Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.
-
Bị đơn: anh Ngô Văn G, sinh năm: 1993;
Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.
(Chị V, anh Giàu có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 01 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh V trình bày:
Chị V với anh G do tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 2024. Vợ chồng chị đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường cãi vã dẫn đến không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn anh chị đã tìm cách tháo gỡ; gia đình hai bên có biết và đã khuyên nhủ, hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh chị đã ly thân mỗi người sống một nơi. Trong thời gian ly thân cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Nay, chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh G.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị V không yêu cầu anh G cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Ngô Văn G trình bày:
Những thông tin về hôn nhân của anh chị, chị V trình bày trên đây là đúng. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh G, chị V đã tìm cách tháo gỡ; gia đình hai bên biết vợ chồng anh bất hòa và đã tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh chị đã ly thân mỗi người sống một nơi. Trong thời gian ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Đến nay, anh G xác định không còn tình cảm với chị V nên anh G đồng ý ly hôn.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh G không yêu cầu chị V cấp dưỡng cho anh sau khi ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: ngày 15/01/2025, chị Nguyễn Thanh V khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Văn G. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị V, bị đơn anh Giàu C yêu cầu giải quyết vắng mặt Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị V:
Chị V, anh G tự nguyện kết hôn vào năm 2024 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/11/2024. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường hay cãi vã, không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị V, anh G ly thân sống mỗi người một nơi. Trong thời gian ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Đến nay, mâu thuẫn vợ chồng không được tháo gỡ; quan hệ hôn nhân vợ chồng chị V không có cải thiện, anh chị vẫn còn ly thân. Chị V xác định không còn tình cảm với anh G nên xin ly hôn. Đối với yêu cầu của chị V, anh G đồng ý. Điều này có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị V là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Chị V, anh G không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
[4] Về án phí: chị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 56, 33, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thanh V xin ly hôn đối với anh Ngô Văn G;
- * Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thanh V với anh Ngô Văn G.
- * Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thanh V và anh Ngô Văn G không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
- Về án phí: chị Nguyễn Thanh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006751 ngày 07/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh Trung |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
