Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CON CUÔNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 27 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà La Thị Huyền.

Ông Nguyễn Văn Hào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS, ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Kha V. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 29 tháng 9 năm 1982 tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản X, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kha Văn D (đã chết) và bà Lô Thị D1; Vợ Trịnh Thị T, sinh năm 1986. Con có 01 sinh năm 2003.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo Kha Văn C bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/01/2025 đến nay. Có mặt.

Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An. Người đại diện ông Lô Văn T1. Chức vụ: Chủ tịch. Người đại diện theo ủy quyền của ông Lô Văn T1: Ông Trần Anh T2. Chức vụ: Phó chủ tịch UBND huyện C. Vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Kha Văn C: Ông Nguyễn Văn H – Trợ giúp viên. Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Kha Văn Đ, sinh năm 1987. Địa chỉ: Bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Anh Lô Văn V, sinh năm 1991. Địa chỉ: Bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Ông Trịnh Bá H1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Anh Kha Văn C1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Anh Kha Văn P, sinh năm 1986. Địa chỉ: Bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Ông Vi Văn H2, sinh năm 1957. Địa chỉ: Bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Ông Lữ Đình H3, sinh năm 1952. Địa chỉ: Bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Quang T3, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản Ả, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Chị Lô Thị H4, sinh năm 1978. Địa chỉ: Bản X, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 11 năm 2024 Kha Văn C xin gia đình chị dâu là Lô Thị H4, sinh năm 1978, trú tại bản Xiềng, xã B, huyện C chia cho một phần đất của gia đình cho C để sản xuất phát triển kinh tế gia đình. Chị Lô Thị H4 đồng ý và chia cho K Văn Chương thửa đất số 434, tờ bản đồ số 5 thuộc khe B, bản X, xã B, huyện C (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất trên mang tên hộ gia đình Lữ Đình H3 thuộc bản Xiềng, xã B, C). Sau đi được chia đất vài ngày sau do muốn phát triển kinh tế từ việc trồng cây keo tại đất rừng đã có. Do không có tiền để thuê người chặt phát, Kha Văn C nhờ anh em họ hàng người thân của C đi chặt, phát rừng lấy đất trồng cây keo gồm: Ông Trịnh Xuân H5 (bố vợ của C), anh Lô Văn V, Kha Văn P, Kha Văn Đ, Kha Văn C1 (anh, em họ với C) và Vi Văn H2 người hàng xóm với C. Cả 06 người cùng với C mang theo mỗi người 01 con dao đi đến địa điểm Khe Bình X chặt phát trong vòng 06 ngày với tổng diện tích 8050m2 (T4 ngàn không trăm năm mươi mét vuông). Do không có sức khỏe nên C dừng lại không phát nữa để chờ cây khô dự định đốt số diện tích chặt phát trên để lấy đất trồng keo.

Ngày 13/11/2024, tổ công tác Liên ngành gồm: Hạt kiểm lâm huyện C và UBND xã B kiểm tra và phát hiện diện tích rừng bị chặt, phát và ra lệnh đình chỉ về hành vi phá rừng trái pháp luật. Đến ngày 17/12/2024, Hạt Kiểm lâm huyện C chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Nghệ An xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 18/12/2024, nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật Kha Văn C đến cơ quan cảnh sát điều tra Con Cuông đầu thú.

Ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Nghệ An phối hợp với các cơ quan chức năng thành lập đoàn xác định hiện trạng rừng và khám nghiệm hiện trường tại khu vực khe B thuộc K, bản X, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Đoàn đã tiến hành kiểm tra và khám nghiệm hiện trường, xác định diện tích bị chặt phát, xác định loại rừng và hiện trạng rừng vị trí rừng bị chặt phá tại lô 51,56,73 khoảnh 2, tiểu khu G, thửa 434 tờ bản đồ số 5 (theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP bản đồ giao đất của Chính phủ) của gia ông Lữ Đình H3, sinh năm 1952 trú tại Bản X, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An được giao quản lý. Xác định diện tích khu vực bị tác động, chặt phá là 8050m2 (Tám ngàn không trăm năm mươi mét vuông). Có trạng thái rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt, rừng tự nhiên có trữ lượng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS, ngày 24/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: Giá trị rừng tự nhiên bị hủy hoại tại lô 51,56,73 khoảnh 2, tiểu khu G, thửa 434 tờ bản đồ số 5, bản X, xã B, huyện C, Nghệ An có trị giá tại thời điểm bị hủy hoại là 10.000.000đ (Mười triệu) đồng.

Từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 12 năm 2024 Kha V, Kha Văn P, Kha Văn C1, Kha Văn Đ, Vi Văn H2, Lô Văn V đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C giao nộp 07 con dao mà các đối tượng đã dùng để chặt, phát rừng; Đối với Lô Thị H4 giao nộp 01 bản giấy mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay (bản phô tô y sao) 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Lữ Đình H3 ( phô tô y sao).

Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự Ủy Ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về rừng với số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Cáo trạng số 17/CT-VKS-CC ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông truy tố Kha V về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố và luận tội đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Kha Văn C mức từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Hủy hoại rừng” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về rừng cho nguyên đơn dân sự số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng). Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng là 07 con mà bị cáo và những người liên quan sử dụng để chặt, phát rừng, đối với 01 bản phô tô giấy mua bán và 01 bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Lô Thị H4 giao nộp cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và tự nguyện ra đầu thú, có bố đẻ là người có công với cách mạng, đề nghị áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, và cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Kha Văn C đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Kha Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian tháng 11 năm 2024, Kha V đã có hành vi nhờ người chặt, phát cây rừng trái phép tại lô 51, 56, 73 khoảnh 2, tiểu khu G, thửa 434 tờ bản đồ số 5, thuộc bản Xiềng, xã B, huyện C, Nghệ An, với tổng diện tích 8050m2 (T4 ngàn không trăm năm mươi mét vuông). Có trạng thái là rừng tự nhiên núi đất, lá rộng thường xanh nghèo kiệt (ký hiệu là TXK) rừng tự nhiên có trữ lượng có trị giá tại thời điểm bị hủy hoại là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Mục đích chặt phá rừng để trồng keo phát triển kinh tế gia đình. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến sự bền vững và ổn định của môi trường sinh thái, gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an trên địa bàn. Vì vậy cần xử lý nghiêm hành vi của bị cáo tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện, để răn đe giáo dục bị cáo và đảm bảo việc phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời tuyên truyền trong quần chúng nhân dân về trách nhiệm bảo vệ rừng. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi hành vi bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Nguyên đơn dân sự số tiền 2.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0000166 ngày 12/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, đồng thời bị cáo có bố đẻ là ông Kha Văn D được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nên xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhận thức về quy định của pháp luật về rừng sản xuất còn hạn chế, mục đích chặt phá rừng để trồng cây keo phát triển kinh tế gia đình, việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là chưa cần thiết, vì vậy cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo, giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Hình hạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản và không có thu nhập ổn định. Vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Bị cáo đồng ý và đã tự nguyện bồi thường một phần số tiền 2.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0000166 ngày 12/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông. Vì vậy cần buộc bị cáo tiếp tục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho nguyên đơn dân sự.

[6] Đối với nhứng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trịnh Bá H1, Lô V, Kha Văn P, Kha Văn Đ, Kha Văn C1 và Vi Văn H2 là những người được K Văn Chương nhờ để chặt phá rừng. Nhưng xét thấy những người này đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, họ không biết nguồn gốc rừng mình được nhờ chặt là rừng cấm và không có ý thức hủy hoại rừng. Bên cạnh đó diện tích chặt phá của họ dưới 5000 m² nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng theo quy định của pháp luật và chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính theo đúng quy định.

Đối với Lô Thị H4 sinh năm 1978 (là chị dâu của C), chia thửa đất trên cho bị can K Văn Chương.Việc C nhờ người đến chặt, phát diện tích đất rừng trên chị H4 không biết, nên chị H4 không đồng phạm với bị cáo Kha Văn C trong vụ án này.

Đối với ông Lữ Đình H3, sinh năm 1957, trú tại bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An là người được giao quản lý sử dụng số diện tích rừng bị hủy hoại, tuy nhiên toàn bộ diện tích rừng đã được mua bán chuyển nhượng cho cho Lô Thị H4 nên không xem xét trách nhiệm là đúng quy định.

[7]. Về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong quản lý, bảo vệ rừng: Hạt Kiểm lâm Con Cuông và UBND xã B là các cơ quan Nhà nước có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn quản lý. Hạt kiểm Lâm và Ủy Ban nhân dân xã đã có sự phối hợp, thường xuyên thực hiện việc tuần tra, kiểm tra, tuyên truyền để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm. Tuy nhiên do đặc thù khách quan về địa bàn có diện tích rừng lớn, địa hình hiểm trở, chia cắt, điều kiện thời tiết khí hậu; cũng như số lượng cán bộ trực tiếp làm công tác còn mỏng do đó, chưa thể đảm bảo phòng ngừa hoàn toàn hành vi vi phạm, cũng như chưa phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm. Giá trị tài sản thiệt hại về rừng là 10.000.000 đồng. Do đó, không có căn cứ về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, quy định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ 07 con dao của Kha Văn C, Kha Văn P, Trịnh Bá H1, Kha Văn Đ, Vi Văn H2, Lô Văn V, Kha Văn C1, đây là toàn bộ dụng cụ các đối tượng sử dụng để chặt, phát rừng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đã có đơn xin miễn tiền án phí nên xét thấy cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Kha Văn C: 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Hủy hoại rừng” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27/3/2025).

    Giao bị cáo Kha Văn C cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo theo quy định tại Điều 94 của Luật thi hành án hình sự và Điều 65 của Bộ luật hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Kha Văn C phải bồi thường cho Nguyên đơn dân sự UBND huyện C số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng) được khấu trừ vào số tiền 2.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0000166 ngày 12/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông mà bị cáo tự nguyện giao nộp, bị cáo Kha Văn C phải tiếp tục bồi thường số tiền 8.000.000 đ (Tám triệu đồng).
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 07 con dao như sau:
    • - 01 (Một) con dao dạng phát dài 44 cm, lưỡi dài 25 cm, rộng 6 cm, cán gỗ dài 19 cm, đường kính 3 cm, đã qua sử dụng của Kha Văn C.
    • - 01 (Một) con dao dạng phát dài 44,3 cm, lưỡi dài 25 cm, phần rộng nhất rộng 6 cm, một cạnh sắc cán gỗ, hình trụ dài 16,3 cm, đường kính 2,8 cm, đã qua sử dụng của Kha Văn P.
    • - 01 (Một) con dao dạng phát dài 45 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 25 cm, phần rộng nhất rộng 6 cm, một cạnh sắc, cán gỗ ở giữa cán giao và lưỡi dao có 01 khâu dao bằng kim loại daih 3cm, đã qua sử dụng của Trịnh Bá H1.
    • - 01 (Một) con dao dạng phát dài 45 cm, lưỡi dài 25 cm, phần rộng nhất rộng 6 cm, một cạnh sắc, cán gỗ hình trụ tròn dài 20 cm, đường kính 2,8 cm, đã qua sử dụng của Kha Văn Đ.
    • - 01 (Một) con dao dạng phát dài 45 cm, lưỡi dài 27 cm, phần rộng nhất rộng 5 cm, một cạnh sắc, cán gỗ hình trụ dài 18 cm, đường kính 2,8 cm, đã qua sử dụng của Vi Văn H2.
    • - 01 (Một) con dao dạng phát dài 44 cm, lưỡi dài 24 cm, phần rộng nhất rộng 6 cm, một cạnh sắc, cán gỗ hình trụ dài 20 cm, đường kính 03 cm, đã qua sử dụng của Lô Văn V.
    • - 01 (Một) con dao dạng phát dài 47 cm, lưỡi dài 26 cm, phần rộng nhất rộng 6,5 cm, một cạnh sắc, cán gỗ hình trụ dài 21 cm, đường kính 2,8 cm, đã qua sử dụng của Kha Văn C1.

    (Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 24 ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An).

  4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Kha Văn C.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
  6. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp Nghệ An;
  • - CQĐT Công an tỉnh Nghệ An.
  • - VKSND huyện Con Cuông;
  • - Chi cục THADS Con Cuông;
  • - Bị cáo, nguyên đơn dân sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN về hủy hoại rừng (criminal case)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kha Văn Ch - Hủy hoại rừng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger