Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày 25/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đăng Thiện;

Ông Nguyễn Văn Sâm;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025.

Đối với bị cáo: Trần Trung T, sinh ngày 04/7/1981, tại phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Lái xe Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc H và bà Hồ Thị Châu L; Bị cáo có vợ là Hoàng Thị D, sinh năm 1988, có 01 con sinh năm 2012; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Viết H1, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Chị Hoàng Thị Y, sinh năm: 1995, địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Viết M, sinh năm 1960, địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  3. Bà Lưu Thị C, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt

Người đại diện theo uỷ quyền của ông M, bà C: Chị Hoàng Thị Y, sinh năm: 1995, địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 18/11/2024, Trần Trung T (sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) có đầy đủ giấy tờ theo quy định, điều khiển xe ô tô BKS: 47B-006.67 chở hành khách từ thành phố Hà Nội về tỉnh Đắk Nông. Đến khoảng 21 giờ 50 cùng ngày, T điều khiển xe trên đường H đến đoạn qua thôn G, xã T, huyện T không chú ý quan sát, không biết chuẩn bị qua ngã tư giao nhau với đường liên thôn G, xã T nên giữ nguyên tốc độ khoảng 70km/h để đi vào ngã tư. Cùng thời điểm này có anh Nguyễn Viết H1 (sinh năm 1995 trú tại thôn C, xã X, huyện T) điều khiển xe mô tô BKS: 20F1-121.52 trên đường liên thôn G, xã T, huyện T chuẩn bị đi vào ngã tư giao nhau với đường H, hướng đi thẳng qua ngã tư (tức hướng từ bên phải xe ô tô BKS: 47B-006.67 đi vào ngã tư).

Khi T điều khiển xe cách ngã tư khoảng 10m thì mới biết chuẩn bị đi vào ngã tư và phát hiện thấy anh H1 đã đi vào ngã tư nên đạp phanh, điều khiển xe tránh né sang bên trái nhưng do tốc độ nhanh và khoảng cách gần nên vẫn đâm va vào anh H1 khiến xe môtô cùng anh H1 văng sang mép đường bên phải theo hướng di chuyển của ô tô. Sau đó, T dừng xuống xe, cùng người dân hỗ trợ đưa anh H1 đi cấp cứu nhưng do thương tích nặng nên anh H1 đã tử vong trên đường.

Ngày 18/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tử thi để xác định nguyên nhân chết của anh Nguyễn Viết H1. Tại Bản kết luận giám định số: 4627/KLGĐTT-PC09 ngày 05/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định nguyên nhân chết của anh Nguyễn Viết H1 do đa chấn thương.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, xác định biển báo giao thông, khám nghiệm phương tiện, giám định dấu vết va chạm cơ học và kết quả xác minh khác xác định:

- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông tại Km565+400 đường H đoạn giao nhau với đường liên thôn thuộc thôn G, xã T, huyện T. Đường H có hướng Bắc - N, trong đó hướng Bắc là hướng đi huyện N, hướng Nam là hướng đi huyện T; đoạn đường được rãi nhựa, rộng 6,7m, ở giữa có vạch kẻ sơn màu vàng nét đứt. Tại đoạn này dốc thoải theo chiều N - Bắc (dốc xuống). Đường liên thôn có hướng Đ - T, trong đó hướng Đ là hướng đi thôn H, xã T có đoạn mở rộng giao nhau với đường H là 12m; hướng Tây là hướng đi thôn G, xã T, có đoạn mở rộng giao nhau với đường H là 18m. Đường liên thôn này được rải nhựa, các góc Đông Bắc, Đ và Tây Nam có ngã tư giao nhau tiếp giáp với bãi đất trống và taluy âm; góc T tiếp giáp với quán C1. Tại hai bên lề đường hướng Nam của đoạn đường H có hàng tôn hộ lan cao 1m, cách mép đường là 1 m.

- Kết quả kiểm tra hệ thống biển báo hiệu đường bộ, hệ thống camera an ninh tại khu vực hiện trường, xung quanh hiện trường:

  • + Tại lề đường phải Hồ Chí Minh hướng huyện N đi huyện T có 03 biển báo: Một biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên (biển W.207a), cách ngã tư 60m về hướng huyện N; Một biển báo chỉ dẫn đi thẳng Như Xuân 47km; rẽ phải Thọ Xương 2,2km, cách ngã tư 45m về hướng huyện N; Một biển báo hiệu gần đến đoạn đường thường có trẻ em đi ngang qua (biển W.225), cách ngã tư 30m về hướng huyện N.
  • + Tại lề đường phải đường liên thôn thuộc thôn G, xã T hướng thôn G đi thôn H, xã T có 02 biển báo: Một biển báo hiệu giao nhau với đường ưu tiên (biển W.208), cách ngã tư 10m về hướng thôn G, xã T; Một biển báo Stop dừng lại quan sát, cách ngã tư 3m về hướng thôn G, xã T.
  • + Tại góc ngã tư giao nhau giữa lề đường phải đường H hướng huyện N đi huyện T với lề đường phải đường liên thôn hướng thôn G, xã T đi thôn H, xã T có một biển báo cấm vượt (biển P.125).

- Tại hiện trường, xung quanh hiện trường phát hiện 01 (một) camera an ninh của xưởng nhà anh Nguyễn Văn H2 ghi lại nội dung liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Ngày 26/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định. Tại Bản Kết luận giám định số 700/KL-KTHS ngày 10/02/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh T xác định: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 tệp video của 01 đĩa DVD gửi giám định; trích xuất 05 hình ảnh trong các tệp video gửi giám định.

- Kết quả khám nghiệm phương tiện, giám định dấu vết va chạm cơ học của hai phương tiện theo kết luận giám định số: 4674/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định:

  • + Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước ngoài bên phải ba-đờ-sốc trước xe ô tô BKS: 47B-006.67 với cạnh bên trái vành trước, má trái lốp trước (tương ứng hàng chữ “MAXLOAD”) xe mô tô BKS: 20F1-121.52.
  • + Tại thời điểm va chạm, xe mô tô BKS: 20F1-121.52 chuyển động từ phải sang trái, chếch cùng chiều so với xe ô tô BKS: 47B-006.67.
  • + Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm truớc đầu vết cà trượt số (3) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường trong khu vực ngã tư nơi giao nhau giữa đường H với đường từ thôn G đi thôn H xã T, huyện T.
  • + Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện khi xảy ra va chạm.

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 40/KL-HĐĐG ngày 02/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định:

  • + Giá trị phần tài sản bị hư hỏng của xe mô tô BKS: 20F1-121.52 do tai nạn giao thông ngày 18/11/2024 là 4.140.000 đồng;
  • + Giá trị phần tài sản bị hư hỏng của xe ô tô BKS: 47B-006.67 do tai nạn giao thông ngày 18/11/2024 là 11.000.000 đồng.

- Tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở, xét nghiệm ma túy qua nước tiểu của Trần Trung T: Kết quả là 0,00mg/1 khí thở, âm tính với chất gây nghiện.

- Tiến hành giám định cồn, ma túy qua mẫu máu của Nguyễn Viết H1: Kết quả là 221,02mg/100ml máu; không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy.

- Kết quả tra cứu thông tin giấy phép lái xe tại Sở Giao thông vận tải tỉnh T xác định: Trần Trung T có giấy phép lái xe hạng E, Nguyễn Viết H1 có giấy phép lái xe hạng A1 còn hiệu lực.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Trung T đã bồi thường số tiền 230.000.000 đồng cho gia đình anh H1. Gia đình anh H1 đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu dân sự gì khác.

Cáo trạng số 25/CT-VKS-HS ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Trần Trung T về tội : "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị Trần Trung T phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Trung T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Về trách nhiệm dân sự, vật chứng của vụ án: Không xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Tối ngày 18/11/2024, tại ngã tư giao nhau giữa đường H với đường liên thôn thuộc thôn G, xã T, huyện T tỉnh Thanh Hóa. Trần Trung T điều khiển xe ô tô BKS 47B-006.67 chạy trên đường H không chú ý quan sát nên không phát hiện phía trước là ngã tư để giảm tốc độ dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 20F1.121.52 do anh Nguyễn Viết H1 điều khiển đang ở trong ngã tư. Hậu quả làm anh H1 bị thương và chết trên đường đi cấp cứu, gây hư hỏng cho xe mô tô BKS 20F1.121.52 là 4.140.000 đồng.

Hành vi của Trần Trung T đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ (hiện thay thế bằng khoản 28 Điều 9, điểm d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ); điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính Phủ (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP), khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Trung T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Trần Trung T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất của vụ án và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông, không chú ý quan sát vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại về tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Trong tình hình hiện nay tình trạng vi phạm luật giao thông đường bộ đang là mối quan tâm của toàn xã hội, hậu quả của những vi phạm này là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh .

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, được đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có bố là người có công với Cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.

[5]. Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 230.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu dân sự gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Không xem xét.

[7]. Về các tình tiết liên quan đến vụ án:

Đối với Nguyễn Viết H1 điều khiển xe mô tô trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu, đi từ đường liên thôn (đường không ưu tiên) đến ngã tư giao nhau với đường H (đường ưu tiên) mà không chú ý quan sát, không nhường đường cho phương tiện đi trên đường ưu tiên, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ (hiện thay thế bởi khoản 2 Điều 9 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ); khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ (hiện thay thế bởi khoản 1 Điều 22 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ; khoản 3, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Tuy nhiên Nguyễn Viết H1 đã tử vong nên không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với các phương tiện có liên quan đến vụ án bao gồm: Xe ô tô BKS: 47B-006.67 là của anh Võ Đình A (sinh năm 1979, trú ở D G, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) và xe mô tô BKS: 20F1-121.52 là của bị hại Nguyễn Viết H1. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành trả lại xe ô tô BKS: 47B-006.67 kèm theo giấy tờ xe, xe mô tô BKS: 20F1-121.52 cho chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung T phạm tội : “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .

2. Xử phạt: Bị cáo Trần Trung T 13 (mười ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 26 (hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Trung T cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.

5. Về án phí: Bị cáo Trần Trung T phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: adfa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger