Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST.

Ngày: 19 - 3 - 2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hoàng Điệt.

Ông Sơn Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tôn – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thanh P; sinh ngày 23/11/1992; nơi sinh: Tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nơi ĐKHKTT: Ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nơi tạm trú: Khóm C, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hữu V, năm sinh 1947 (chết) và Giang Thị S, sinh năm 1953 (sống); bị cáo có vợ tên Lê Thị Mỹ N, sinh năm 1995 (đã ly hôn); có 02 người, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07/3/2019, bị TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 06/2019/QĐ-TA ngày 07/3/2019 của TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp (chấp hành xong ngày 23/3/2020); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến ngày 16/12/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (Có mặt).

Bị hại: Ông Trần Văn Đ, sinh ngày 01/01/1985; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).

2.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Kim N1, sinh ngày 09/8/1997; nơi cư trú: Khóm C, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 12/12/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66L1-234.22, loại xe Wave, màu xanh đen chở nệm, bàn inox đi bán theo hướng từ nhà trọ Như Nguyện thuộc khóm C, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng đi xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Khi đi đến nhà của ông Trần Văn H thuộc ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì bị cáo thấy ông H đang ngồi ở trong nhà nên dừng xe lại và hỏi “mua nệm không chú ơi”, nhưng ông H không trả lời mà quay mặt sang chỗ khác (do ông H có bệnh lý, nghe và nhìn không rõ), lúc này bị cáo nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y28 của Trần Văn Đ (là con ruột của ông H) đang sạc pin để trên cái bàn bên hông nhà mà không có ai trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại trên. Bị cáo xuống xe và đi vào nhà rút dây sạc ra rồi lấy điện thoại bỏ vào túi quần jean bên trái, sau đó bị cáo lên xe tiếp tục chạy đi bán. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Trần Văn Đ phát hiện chiếc điện thoại đã bị mất trộm nên đến Công an xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng trình báo sự việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐGTS ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thuộc UBND huyện M, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y28, mua vào tháng 7 năm 2024 với số tiền 5.790.000 đồng; Giá khảo sát: 5.387.000 đồng; Giá trị còn lại: 70%; Thành tiền: 3.771.000 đồng. Tổng giá trị tài sản được định giá là: 3.771.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKSMT ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Bùi Thanh P về Tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo theo điều luật như trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm Tội trộm cắp tài sản và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo từ 03 (ba) tháng đến 05 (năm) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66L1-234.22, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh đen, số máy: HC12E0162718, số khung: 12098Y084345; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 66L1-234.22. Xét thấy, cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thống nhất với kết luận định giá. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị hại yêu cầu về trách nhiệm hình sự yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị hại vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt; xét thấy sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát; bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ vào Điều 292 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất Cáo trạng truy tố, bị cáo đã khai rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Hiện trường vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, bản kết luận số 43/KL-HĐĐGTS, ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thuộc UBND huyện M, vật chứng của vụ án và phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định như sau: Chỉ vì muốn có điện thoại để sử dụng cá nhân, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y28 của bị hại Trần Văn Đ. Tổng giá trị tài sản bị can đã lấy trộm qua định giá là 3.771.000 đồng (ba triệu bảy trăm bảy mươi mốt ngàn đồng). Do đó, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị là 3.771.000 đồng (ba triệu bảy trăm bảy mươi mốt ngàn đồng) mà bị cáo đã thực hiện phạm vào Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Do đó, Cáo trạng số 14/CT-VKSMT ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Cho nên, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo có thời gian tâm đắc sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, góp phần phòng chống tội phạm chung.

Bị cáo có nhân thân xấu cụ thể: Ngày 07/3/2019, bị TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 06/2019/QĐ-TA ngày 07/3/2019 của TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp (chấp hành xong ngày 23/3/2020). Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo không có tiền án, tiền sự, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị can lấy trộm được thu giữ kịp thời và giao trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại về tài sản không lớn, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ. Mặt khác, căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích nêu trên cũng như bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66L1-234.22, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh đen, số máy: HC12E0162718, số khung: 12098Y084345; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 66L1-234.22. Xét thấy, chiếc xe trên là của cha bị cáo là ông Bùi Hữu V, hiện nay đã chết nên là di sản thừa kế chưa chia, do các đồng thừa kế hiện nay chưa xác định được và việc bị cáo sử dụng xe gia đình không biết nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là có căn cứ.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, về hình phạt, việc áp dụng pháp luật, xử lý vật chứng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Đối với Phan Thị Kim N1, quá trình điều tra đã xác định N1 không biết chiếc điện thoại mà bị cáo đem về phòng trọ là chiếc điện thoại mà bị cáo đã lấy trộm của bị hại Đ nên không đặt ra xem xét xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh P phạm Tội trộm cắp tài sản.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Xử phạt bị cáo Bùi Thanh P 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án. Nhưng được khấu trừ vào thời hạn tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến ngày 16/12/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  5. Buộc bị cáo Bùi Thanh P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Bùi Thanh P: với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66L1-234.22, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh đen, số máy: HC12E0162718, số khung: 12098Y084345; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 66L1-234.22.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Thanh P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; BH; NLQ
  • - VKSND huyện Mỹ Tú;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Phân trại tạm giam khu vực huyện Mỹ Tú;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Sóc Trăng.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger