TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày 26-3-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Kiên.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đồng và ông Nguyễn Văn Đương.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hợi - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
- + Họ và tên: Lê Xuân S, tên gọi khác: Không; sinh năm 1996, nơi sinh: Xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Lê Xuân H, sinh năm 1969; họ tên mẹ: Lê Thị L, sinh năm: 1972; Vợ là Trần Thị H1, sinh năm 1997; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024 đến ngày 30/12/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Tất M, sinh ngày 25/09/1991
- Địa chỉ: Xóm, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt (Không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 26/12/2024, tổ công tác Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An và Công an xã T làm nhiệm vụ tại khu vực xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An thì phát hiện Nguyễn Tất M, sinh ngày 25/09/1991 đang đi bộ trên đường, tay phải đang xách theo 01(một) bao tải màu trắng, bên ngoài có chữ KALI, đạm Thần Nông 15-15, bên trong đựng vật hình hộp (nghi là pháo nổ). Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Tất M, quá trình kiểm tra Nguyễn Tất M đã tự nguyện mở bao tải trắng đang cầm ở tay phải ra cho tổ công tác kiểm tra thì phát hiện trong bao tải có 03 (ba) khối hình hộp có cùng kích thước: (17x17x10) cm, bên ngoài mỗi khối hình hộp được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, trên bề mặt có chữ nước ngoài; mỗi khối hình hộp gồm 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ). Nguyễn Tất M khai nhận 03 (ba) khối hình hộp đựng trong bao tải trắng nêu trên là pháo hoa nổ, M mua của Lê Xuân S vào ngày 19/12/2024 với giá 4.500.000 đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), Nguyễn Tất M đã thanh toán cho bị cáo Lê Xuân S số tiền 4.000.000 đ (Bốn triệu đồng bằng hình thức chuyển khoản và đưa 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) bằng tiền mặt với mục đích mua pháo hoa nổ để về nổ vào dịp Tết Nguyên đán. Lực lượng Công an đã lập biên bản sự việc và thu giữ niêm phong vật chứng gồm: 03 (ba) khối hình hộp nghi là pháo hoa nổ và 01(Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen đã qua sử dụng bên trong có gắn SIM 1 số: 0336.416.077; SIM2 số: 0859.545.686, sau đó mời Nguyễn Tất M về trụ sở Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An để làm việc.
Vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 26/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Tất M, quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài liệu nào.
Vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 26/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với bị cáo Lê Xuân S, quá trình khám xét đã giữ 01 (một) khối hình hộp có kích thước: (13x12x14) cm, bên ngoài mỗi khối được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, trên bề mặt có in chữ nước ngoài; mỗi khối hình hộp gồm 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là P nổ) tại nóc tủ nhựa trong phòng ngủ của bị cáo Lê Xuân S, thu giữ 02 (hai) khối hình hộp có cùng kích thước: (13x12x14) cm, bên ngoài mỗi khối được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, trên bề mặt có in chữ nước ngoài; mỗi khối hình hộp gồm 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ) tại gầm giường trong phòng ngủ của bị cáo Lê Xuân S. Tại thời điểm khám xét bị cáo Lê Xuân S đang đi làm tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên không có mặt tại nơi ở, tổ công tác đã lập biên bản thu giữ 03(ba) khối hình hộp (nghi là pháo nổ) này.
Do nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên vào ngày 27/12/2024, bị cáo Lê Xuân S đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để đầu thú về hành vi phạm tội và giao nộp 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A15, màu xanh đậm, điện thoại đã qua sử dụng bên trong có gắn sim số 0976296037.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bị cáo Lê Xuân S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Vào khoảng tháng 10 năm 2024, bị cáo Lê Xuân S đi làm tại xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, khi S đang ngồi uống nước tại quán nước vỉa hè thì có một người đàn ông không biết tên và địa chỉ có hỏi bị cáo Lê Xuân S: “có mua pháo hoa nổ tết về mà nổ không”. Thấy có người có pháo nổ bán nên bị cáo Lê Xuân S đã đồng ý mua với mục đích đưa về nhà để bán kiếm lời. Bị cáo Lê Xuân S hỏi lại “bao nhiêu tiền một cối”, người đàn ông đó trả lời “một triệu”, S nói: “vậy lấy cho em 3 cối”, sau đó người đàn ông nói S ngồi chờ ở quán để đi lấy pháo. Một lúc sau người đàn ông đó quay lại chỗ bị cáo S ngồi đưa cho bị cáo S một thùng cát tông, bên trong chứa 03 (ba) cối pháo hoa loại 36 quả, S kiểm tra hàng và thanh toán bằng tiền mặt số tiền 3.000.000 đ (Ba triệu đồng) cho người đàn ông đó. Mua xong bị cáo S cầm số pháo trên đưa về nhà ở của mình tại xóm G, xã T, huyện Đ để cất giấu. Đến ngày 16/12/2024, Lê Xuân S đi làm ở thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, khi Lê Xuân S đang đi dạo trên đường thì Lê Xuân S gặp một người đàn ông đang nói chuyện liên quan đến pháo nổ thì S hỏi người đó “có bán pháo hoa nổ không, thì người đó trả lời có”, S hỏi mua 03 (ba) cối pháo hoa nổ loại 49 quả, người đàn ông nói rằng: “một cối 49 giá một triệu ba trăm nghìn đồng”, bị cáo Lê Xuân S đồng ý, sau đó người đàn ông đó bảo bị cáo S đứng chờ để đi lấy pháo. Một lúc sau người đàn ông đó quay lại đưa cho bị cáo S một thùng cát tông, bên trong chứa 03 (ba) cối pháo hoa nổ loại 49 quả, bị cáo S kiểm tra hàng và thanh toán bằng tiền mặt số tiền 3.900.000₫ (Ba triệu chín trăm nghìn đồng) cho người đàn ông đó. Khi mua xong bị cáo S cầm số pháo trên đưa về nhà của mình để cất giấu để bán kiếm lời. Đến
ngày 19/12/2024, Nguyễn Tất M gọi điện cho bị cáo Lê Xuân S qua số điện thoại 0976.296.xxx để hỏi mua pháo hoa nổ, S trả lời: “một cối 49 quả giá một triệu năm trăm nghìn đồng”, bị cáo S nói lại: “lấy cho tau 3 cối”, sau đó M chuyển cho Lê Xuân S số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) qua tài khoản ngân hàng MB của Lê Xuân S, số tài khoản 988898896789 và nói “bựa sau lấy pháo tau đưa thêm 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền mặt”. Bị cáo S lấy 03 (ba) cối pháo hoa nổ loại 49 quả bọc trong một bao tải màu trắng đi bộ sang nhà Nguyễn Tất M đưa pháo cho M 03 (ba) khối pháo, Nguyễn Tất M trả số tiền còn lại là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) cho bị cáo S. Sau đó bị cáo Lê Xuân S về nhà của mình.
Ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong lại vật chứng, cụ thể là:
- + 03 hộp hình chữ nhật (nghi là pháo hoa nổ) thu giữ tại nhà bị cáo Lê Xuân S: 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (13x12x14) cm, ký hiệu C0833 bên ngoài được bọc bằng giày nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong được cấu tạo bởi 36 (ba mươi sáu) khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn thu giữ trên nóc tủ nhựa tại phòng ngủ bị cáo Lê Xuân S có khối lượng là 1,352 kg (kilôgam). Hội đồng đã lấy khối hình hộp chữ nhật này gửi đi giám định ký hiệu là M1; 02(hai) khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (13x12x14) cm, ký hiệu C0833 bên ngoài được bọc bằng giây nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong được cấu tạo bởi 36 (ba mươi sáu) khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn thu giữ dưới gầm giường phòng ngủ của bị cáo Lê Xuân S có tổng khối lượng là 2,689 kg (Hai phẩy sáu trăm tám mươi chín kilôgam). Hội đồng đã lấy ngẫu nhiên 01(một) khối hình hộp chữ nhật có khối lượng 1,351 kg (Một phẩy ba trăm năm mốt kilogam) gửi đi giám định ký hiệu là M2. Số vật chứng còn lại gồm 01(một) khối hộp hình chữ nhật có kích thước (13x12x14cm), ký hiệu C0833 bên ngoài được bọc bằng giày nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong được cầu tạo bởi 36 (ba mươi sáu) khỏi hình trụ tròn dược liên kết với nhau bằng dây dẫn có khối lượng là 1,338kg (Một phẩy ba trăm ba mươi tám kilogam).
- + Đối với 03 hộp hình chữ nhật (nghi là pháo hoa nổ) thu giữ của Nguyễn Tất M, được bọc bằng giấy nhiều màu sắc bên trong có cấu tạo bởi 49 (bốn chín) khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn có tổng khối lượng 4,632 kg (bốn phẩy sáu trăm ba mươi hai kilogam). Hội đồng đã lấy 02(hai) hộp ngẫu nhiên ký hiệu là A8419A có tổng khối lượng là 3,149 kg (ba phẩy một trăm bốn mươi chín kilogam) gửi đi giám định. Số vật chứng còn lại gồm: 01 (một) khối pháo hình hộp chữ nhật được bọc bằng giấy nhiều màu sắc bên trong có cấu tạo bởi 49(bốn chín) khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn ký hiệu A8419A có khối lượng là: 1,483 kg (Một phẩy bốn trăm tám mươi ba kilogam).
Tại Bản Kết luận giám định số: 80/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M2 thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của bị cáo Lê Xuân S gửi tới giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại Bản Kết luận giám định số: 81/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu vật thu giữ của Nguyễn Tất M gửi tới giám định ký hiệu là A8419A đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Hành vi của bị cáo Lê Xuân S đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, bị cáo Lê Xuân S đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Mục đích tàng trữ pháo nổ để bán kiếm lời.
Về vật chứng của vụ án:
- - Thu giữ của Nguyễn Tất M gồm: 03 (ba) khối pháo hình hộp chữ nhật được bọc bằng giấy nhiều màu sắc trên bề mặt có in chữ nước ngoài, bên trong có cấu tạo bởi 49 (bốn chín) khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn có tổng khối lượng 4,632 kg (bốn phẩy sáu trăm ba mươi hai kilogam); 01(Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen đã qua sử dụng bên trong có gắn SIM 1 số: 0336.416.077; SIM2 số: 0859.545.686.
- - Thu giữ của bị cáo Lê Xuân S gồm: 01 (một) khối hình hộp có kích thước: (13x12x14) cm, bên ngoài mỗi khối được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, trên bề mặt có in chữ nước ngoài; mỗi khối hình hộp gồm 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ) thu giữ tại nóc tủ nhựa trong phòng ngủ của Lê Xuân S; 02 (hai) khối pháo hình hộp có cùng kích thước: (13x12x14) cm, bên ngoài mỗi khối được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, trên bề mặt có in chữ nước ngoài; mỗi khối hình hộp gồm 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ), tổng 03 khối pháo nổ là 4,041 kg (Bốn phẩy không trăm bốn mốt kilogam); 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A15, màu xanh đậm, điện thoại đã qua sử dụng bên trong có gắn sim số 0976296037.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Đô Lương giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng số 22/CT- VKS- KS ngày 25/02/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân S từ 15(Mười lăm) tháng tù đến 18(Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30(ba mươi) tháng . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tuyên xử: tịch thu tiêu hủy 01(một) khối hộp hình chữ nhật có kích thước (13x12x14) cm, ký hiệu C0833 bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong được cấu tạo bởi 36 (ba mươi sáu) khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn có khối lượng là 1,338 kg (Một phẩy ba trăm ba mươi tám kilogam) và 01 (một) khối pháo hình hộp chữ nhật được bọc bằng giấy nhiều màu sắc bên trong có cấu tạo bởi 49 (bốn chín) khối hình trụ tròn liên kết với nhau bằng dây dẫn ký hiệu là A8419A có khối lượng là: 1,483 kg (Một phẩy bốn trăm tám mươi ba kilogam). Tịch thu xung công hóa giá nhà nước với 02 (hai) chiếc điện thoại gồm: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen gắn SIM 1 số: 0336.416.077, SIM 2 số: 0859.545.686 đã qua sử dụng thu giữ từ Nguyễn Tất M và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A15, màu xanh đậm gắn sim số 0976296037 đã qua sử dụng thu giữ từ bị cáo Lê Xuân S.
- - Đối với số tiền 4.500.000 đồng do bị cáo bán pháo mà có, đây là số tiền do phạm tội mà có vì vậy cần phải truy thu xung công quỹ nhà nước.
- - Về án phí: + Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng,không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- + Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- + Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội, Kết luận giám định, vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở để khẳng định: Do có nhu cầu mua pháo nổ để bán kiếm lời nên vào các tháng 10, 12 năm 2024, sau khi mua được 06 (sáu) khối pháo nổ có tổng khối lượng là 8,673kg (T phẩy sáu trăm bảy mươi ba kilogam) của người đàn ông không quen biết tại tỉnh Phú Thọ và tỉnh Thanh Hóa. Đến ngày 19/12/2024 bị cáo Lê Xuân S đã bán 03 (ba) khối pháo nổ (loại 49 quả) có tổng khối lượng là 4,632 kg (Bốn phẩy sáu trăm ba mươi hai kilôgam) cho Nguyễn Tất M với giá mỗi khối pháo hoa nổ là 1.500.000 đồng (03 khối pháo nổ là 4.500.000 đồng). Còn lại 03 (ba) khối pháo nổ loại 36 quả có khối lượng là 4,041 kg (Bốn phẩy không trăm bốn mươi mốt kilôgam) Lê Xuân S, đưa đi cất dấu trong nhà của nhà mình với mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện và thu giữ. Tổng khối lượng bị cáo Lê Xuân S, phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi buôn bán hàng cấm là 8,673 kg (T phẩy sáu trăm bảy mươi ba kilogam). Do đó với hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Buôn bán hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng quy định pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, hành vi của bị cáo:
Hành vi tội phạm mà bị cáo Lê Xuân S thực hiện thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước cụ thể là trong lĩnh vực hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển và tàng trữ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo lại là đối tượng có nhân thân xấu, từng bị Cơ quan công an xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo đã thi hành xong quyết định xử phat. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, phòng ngừa. Tuy nhiên cũng cần xem xét sức khỏe bản thân bị cáo hiện nay bị cáo vừa trải qua bệnh đột quỵ, bị ảnh hưởng đến não bộ, đi lại đang gặp nhiều khó khăn và hiện đang trong quá trình điều trị.
[2.3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, và sau khi phạm tội tự nguyện ra đầu thú; Bị cáo Lê Xuân S có mẹ ruột là Lê Thị L được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N tặng Bằng khen do có thành tích xuất sắc trong công tác Mặt trận trên địa bàn tỉnh Nghệ An và được Ban Chấp hành Hội chữ thập đỏ huyện Đ, tỉnh Nghệ An tặng giấy khen do có thàng tích xuất sắc trong công tác Hội chữ thập đỏ. Do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.3].Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp lao động tự do, công việc không ổn định, thu nhập chỉ đủ nuôi gia đình, bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[2.4].Về trách nhiệm dân sự: Hành vi của bị cáo không gây thiệt hại gì cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
[3]. Về vật chứng: - Quá trình điều tra Cơ quan Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An đã thu giữ: 03 (ba) khối pháo hình hộp có tổng khối lượng là 5,852 kg gửi đi giám định đã sử dụng hết, còn lại: 01(một) khối hộp hình chữ nhật có kích thước (13x12x14) cm, ký hiệu C0833 bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong được cấu tạo bởi 36 (ba mươi sáu) khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn có khối lượng là 1,338 kg (Một phẩy ba trăm ba mươi tám kilogam) và 01 (một) khối pháo hình hộp chữ nhật được bọc bằng giấy nhiều màu sắc bên trong có cấu tạo bởi 49 (bốn chín) khối hình trụ tròn liên kết với nhau bằng dây dẫn ký hiệu là A8419A có khối lượng là: 1,483 kg (Một phẩy bốn trăm tám mươi ba kilogam). Đây là hàng nhà nước cấm nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với vật chứng là 02 (hai) chiếc điện thoại gồm: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen gắn SIM1số: 0336.416.077, SIM 2 số: 0859.545.686 đã qua sử dụng thu giữ từ Nguyễn Tất M và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A15, màu xanh đậm gắn sim số 0976296037 đã qua sử dụng thu giữ từ Lê Xuân S, đây là công cụ để bị cáo S và anh Nguyễn Tất M liên lạc để thực hiện hành vi mua bán pháo nổ nên cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền 4.500.000 đồng thu lợi từ việc bị cáo bán pháo, đây là số tiền do phạm tội mà có vì vậy cần phải truy thu xung công quỹ nhà nước.
[4] Đối với anh Nguyễn Tất M đã thực hiện hành mua 03(ba) khối pháo nổ của Lê Xuân S với tổng khối lượng là 4,632 (Bốn phẩy sáu trăm ba mươi hai kilogam). Do khối lượng pháo nổ này chưa đủ để cấu thành tội phạm. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tất M theo thẩm quyền.
Đối với người đàn ông đã bán pháo nổ cho Lê Xuân S tại huyện H, tỉnh Phú Thọ và tại huyện N tỉnh Thanh Hóa, S không quen biết, không rõ đặc điểm. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh, làm rõ 02 người bán pháo cho S nhưng không xác định được người nào có đặc điểm như mô tả của Lê Xuân S nên không có căn cứ để xử lý.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tại phiên toà và việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47, Điều 65 của BLHS; Điều 136, Điều 102 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- - Xử phạt bị cáo Lê Xuân S 15(Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30(ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Giao bị cáo Lê Xuân S cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92, Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể ra quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại gồm: 01(một) khối hộp hình chữ nhật có kích thước (13x12x14) cm, ký hiệu C0833 bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong được cấu tạo bởi 36 (ba mươi sáu) khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn có khối lượng là 1,338 kg (Một phẩy ba trăm ba mươi tám kilogam) và 01 (một) khối pháo hình hộp chữ nhật được bọc bằng giấy nhiều màu sắc bên trong có cấu tạo bởi 49 (bốn chín) khối hình trụ tròn liên kết với nhau bằng dây dẫn ký hiệu là A8419A có khối lượng là: 1,483 kg (Một phẩy bốn trăm tám mươi ba kilogam).(Vật chứng hiện đã được Cơ quan Điều tra công an huyện Đ chuyển lưu giữ tại kho vật chứng phòng P1, Công an tỉnh N).
Tịch thu xung công hóa giá nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPOA55 màu đen gắn SIM 1số:0336.416.077, SIM 2 số: 0859.545.686 đã qua sử dụng thu giữ từ Nguyễn Tất M và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A15, màu xanh đậm gắn sim số 0976296037 đã qua sử dụng thu giữ từ Lê Xuân S. (Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương, Nghệ An theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương ngày 25/02/2025). Truy thu của bị cáo số tiền 4.500.000 đồng để xung công quỹ nhà nước.
[3] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Xuân S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Kiên |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự sơ thẩm (tội buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Tội Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân Sơn phạm tội "Buôn bán hàng cấm"
