TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN Bản án số: 18/2025/DS-ST Ngày: 14-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Đoàn
Ông Nguyễn Minh Chí
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên
tòa: Bà Phan Thị Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 279/TLST-DS ngày 04/10/2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lâm Thị X, sinh năm 1975; Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Lê Hoàn H, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. Có mặt
Bị đơn: Ông Đặng Hoàng T, sinh năm: 1984, (đã chết).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
Bà Trần Thị Kim H1, sinh năm 1950; Vắng mặt
Bà Lương Thị Diễm T1, sinh năm 1987; Vắng mặt
Em Đặng Hoàng L, sinh năm 2004; Vắng mặt
Em Đặng Thị Thùy L1, sinh năm 2008;
Em Đặng Hoàng Kim Y, sinh năm 2020;
Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp của em L1, em Y: Bà Lương Thị Diễm T1,
sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Hoàn H trình bày:
Ông Đặng Hoàng T và bà Lâm Thị X là hàng xóm với nhau. Năm 2023, ông T có vay tiền của bà X vài lần. Lần cuối cùng là ngày 25/5/2023, ông T đến nhà bà X để vay số tiền là 100.000.000 đồng, không có vợ ông T cùng đi. Khi vay có lập giấy tay đề ngày 25/5/2023 do ông T viết, hẹn 10 ngày trả lại, không thỏa thuận lãi suất.
Để đảm bảo cho số tiền vay thì ông T có đưa cho bà X bản chính 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T đứng tên chủ sử dụng. Mục đích ông T vay để làm ăn.
Tuy nhiên, hết thời hạn 10 ngày nhưng ông T không trả số tiền vốn, mặc dù bà X nhiều lần yêu cầu nhưng vẫn chưa trả. Sau đó, ngày 25/6/2023 ông T có trả cho bà X tiền lãi là 2.000.000 đồng và sau đó không trả nữa nên bà X có gọi báo cho vợ của ông T biết. Đến ngày 03/5/2024, bà Lương Thị Diễm T1 là vợ ông T đến yêu cầu nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền ngân hàng trả lại cho bà X, việc giao trả không có lập văn bản. Sau khi nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà T1, ông T cũng không trả lại tiền vay cho bà X.
Do đó, bà X yêu cầu ông T trả lại số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả tính kể từ ngày 05/6/2023 đến ngày 09/01/2025 (là 19 tháng) với mức lãi suất là 0.83%= 15.770.000 đồng, yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi xét xử sơ thẩm. Bà X không yêu cầu bà T1 cùng trả số tiền trên.
Tại phiên tòa, ông Lê Hoàn H trình bày: Bà X yêu cầu những người thừa kế của ôn T trả cho bà X số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 277.000 đồng với thời hạn 10 ngày và mức lãi suất 2%/tháng. Đồng thời, yêu cầu trả lãi quá hạn tính kể từ ngày 04/6/2023 đến ngày 14/3/2025 theo mức lãi suất là 1.25% là 26.200.000 đồng. Tuy nhiên, trước đó ngày 25/6/2023 ông T có trả được 2.000.000 đồng nên cấn trừ 2.000.000 đồng đã trả thì phía bị đơn còn phải trả cho bà X số tiền là 123.923.000 đồng.
Quá trình giải quyết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Đặng Hoàng T mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả lại số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng và tiền lãi chậm với mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự trả tính kể từ ngày 04/6/2023 cho đến khi xét xử sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An và quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 các Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về việc giải quyết vắng mặt: Bà Trần Thị Kim H1, bà Lương Thị Diễm T1, em Đặng Hoàng L vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần. Do đó, căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự trên.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Giấy tay đề ngày 25/5/2023, Hội đồng xét xử xét thấy:
Giấy tay đề ngày 25/5/2023 do nguyên đơn bà X cung cấp thể hiện nội dung ông Đặng Hoàng T “có vay mượn chị X (bà Lâm Thị X) số tiền 100.000.000 đồng” và hẹn “trong vòng 10 ngày trả lại”, cuối văn bản thể hiện chữ ký và chữ viết họ tên Đặng Hoàng T. Quá trình giải quyết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T không đến Tòa án, không có ý kiến phản bác đối với yêu cầu của bà X, cũng như không có yêu cầu xem xét đối với chữ ký, chữ viết Đặng Hoàng T. Do đó, căn cứ Điều 91, 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định ông T có giao kết hợp đồng vay tài sản với bà Lâm Thị X, việc giao kết được thể hiện bằng văn bản đề ngày 25/5/2023.
Căn cứ vào văn bản nêu trên xét thấy, hợp đồng vay do các bên giao kết là hợp đồng có thời hạn và không có lãi. Mặc dù, tại phiên tòa phía nguyên đơn xác định có thỏa thuận về việc trả lãi là 2%/tháng, tuy nhiên nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ xác định có việc thỏa thuận trả lãi. Hết thời hạn vay các bên không có thỏa thuận lại về thời gian trả, phía bị đơn cũng không cung cấp chứng cứ xác định đã có việc trả lại tiền vay. Vì vậy, xác định phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền vay khi đến hạn theo quy định tại Khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
Do đó, phía nguyên đơn khởi kiện yêu cầu phía bị đơn trả tiền vay còn nợ là có căn cứ nên chấp nhận. Buộc những người thừa kế của ông Đặng Hoàng T là bà Trần Thị Kim H1, bà Lương Thị Diễm T1, em Đặng Hoàng L, em Đặng Thị Thùy L1, em Đặng Hoàng Kim Y có trách nhiệm trả cho bà Lâm Thị X số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng.
[4] Đối với tiền lãi chậm trả: Căn cứ khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự xác định thời gian chậm trả được tính kể từ khi hết thời gian vay theo thỏa thuận là từ ngày 04/6/2023 đến khi xét xử sơ thẩm ngày 14/3/2025 và mức lãi suất áp dụng là 0.83%. Nguyên đơn yêu cầu tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 1.25% là không phù hợp với các quy định trên về hợp đồng vay được giao kết.
Do đó, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc những người thừa kế của ông Đặng Hoàng T là bà Trần Thị Kim H1, bà Lương Thị Diễm T1, em Đặng Hoàng L, em Đặng Thị Thùy L1, em Đặng Hoàng Kim Y có trách nhiệm trả cho bà Lâm Thị X số tiền lãi chậm trả là 100.000.000 đồng x 0.83% x 21 tháng 10 ngày = 17.707.000 đồng. Do nguyên đơn xác định bị đơn ông T đã trả được 2.000.000 đồng vào ngày 25/6/2023 nên khấu trừ lại số tiền 2.000.000 đồng. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn với số tiền là 15.707.000 đồng.
Những người hưởng thừa kế của ông T có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim H1, bà Lương Thị Diễm T1, em Đặng Hoàng L, em Đặng Thị Thùy L1, em Đặng Hoàng Kim Y phải chịu án phí là 5.785.350 đồng. Bà Lâm Thị X phải chịu án phí đối với phần không được chấp nhận là 410.800 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị X về yêu cầu trả lại tiền vốn vay và tiền lãi chậm trả.
Buộc những người thừa kế của ông Đặng Hoàng T là bà Trần Thị Kim H1, bà Lương Thị Diễm T1, em Đặng Hoàng L, em Đặng Thị Thùy L1, em Đặng Hoàng Kim Y trả cho bà Lâm Thị X số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 15.707.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim H1, bà Lương Thị Diễm T1, em Đặng Hoàng L, em Đặng Thị Thùy L1, em Đặng Hoàng Kim Y phải chịu án phí là 5.785.350 đồng. Bà Lâm Thị X phải chịu án phí đối với phần không được chấp nhận là 410.800 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà Lâm Thị X đã nộp là 450.000 đồng theo biên lai thu số 13922 ngày 09/01/2025 và 3.050.000 đồng theo biên lai thu số 13304 ngày 16/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. H2 lại cho bà Lâm Thị X số tiền còn lại là 3.089.200 đồng.
Án sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phương Thảo |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc Cần Giuộc, ngày 21 tháng 3 năm 2025 |
Số: 66/2025/QĐ-SCBSBA
QUYẾT ĐỊNH
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
Căn cứ vào Điều 268 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Xét cần sửa chữa bản án do lỗi rõ ràng về chính tả trong Bản án số: 18/2025/DS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc đã giải quyết sơ thẩm vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay” giữa:
Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Xiếu, sinh năm 1975; Địa chỉ: ấp 2/5, xã Long Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An; Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Lê Hoàn Hiếu, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khu phố Phước Thuận, thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Bị đơn: Ông Đặng Hoàng Tùng, sinh năm: 1984, (đã chết). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
Bà Trần Thị Kim Huê, sinh năm 1950;
Bà Lương Thị Diễm Trinh, sinh năm 1987;
Em Đặng Hoàng Long, sinh năm 2004;
Em Đặng Thị Thùy Linh, sinh năm 2008;
Em Đặng Hoàng Kim Yến, sinh năm 2020;
Cùng địa chỉ: ấp Phước Thới, xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Người đại diện hợp pháp của em Linh, em Yến: Bà Lương Thị Diễm Trinh, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp Phước Thới, xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
QUYẾT ĐỊNH:
Sửa chữa Bản án số: 18/2025/DS–ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc như sau:
Tại dòng thứ 5 từ trên xuống, trang 3 của Bản án đã ghi:
“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án...”
Nay sửa chữa như sau:
“Kể từ ngày 15-3-2025...”
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Trần Phương Thảo |
Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 18/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
