|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 3 - 2025
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải và bà Hà Thị Dung
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXX-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Bàn Thị S, sinh năm 1989
Nơi thường trú: TDP H, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)
-
Bị đơn: Anh Triệu Hồng H, sinh năm 1984
Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: T, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Hiện đang ở Đài Loan. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bàn Thị S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Triệu Hồng H được tự nguyện tìm hiểu và sau 07 tháng thì kết hôn. Được sự đồng ý của cả hai bên gia đình và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam vào ngày 02/4/2007.
Sau khi kết hôn, anh H có nhiều lời nói xúc phạm chị, không chăm lo cho gia đình. Đến năm 2018, anh H đi lao động tại Đài Loan. Anh chị thường xuyên cãi nhau, không hợp nhau về cách sống và tư tưởng sống. Từ năm 2019, anh chị không còn liên lạc với nhau nữa. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh H, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Triệu Nam H1, sinh ngày 18/7/2012. Hiện nay cháu H1 đang ở với chị S, thu nhập hàng tháng của chị khoảng 10 (mười) triệu đồng. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị và anh H có 01 ngôi nhà cấp 4, diện tích khoảng 70m² xây dựng trên đất của bố mẹ anh H cho, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị và anh H, chị không nhớ năm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và số thửa, tờ bản đồ bao nhiêu. Ngoài ra anh chị không có tài sản gì khác. Không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Tại biên bản làm việc ngày 19/02/2025 giữa Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên với ông Triệu Tiến Đ, sinh năm 1957 và bà Bàn Thị H2, sinh năm 1958, là bố mẹ đẻ của anh H dưới sự chứng kiến của đại diện Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xác định: Anh H là con trai của ông bà, hiện đang làm việc tại Đài Loan, ông bà vẫn thường xuyên liên hệ với anh H tuy nhiên ông bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H ở Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án được. Tại buổi làm, ông Đ và bà H2 gọi điện thoại trực tiếp cho anh H, anh H xác định vợ chồng anh chị có mâu thuẫn với nhau, anh biết việc chị S xin ly hôn, anh H nhất trí ly hôn với chị S. Tuy nhiên anh H không cung cấp cho Tòa án địa chỉ cụ thể của anh H ở Đài Loan cho Tòa án. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Triệu Nam H1, sinh ngày 18/7/2012, anh đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Anh H xác định không có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị S, cho chị S được ly hôn anh Triệu Hồng H. Về con chung: Giao cháu Triệu Nam H1, sinh ngày 18/7/2012 cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- [1] Chị Bàn Thị S là nguyên đơn đang cư trú tại Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Anh Triệu Hồng H trước khi đi Đài Loan có hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Theo công văn số 5052/PQLNXC(Đ1) ngày 11/12/2024 của Phòng Q Công an tỉnh T xác định anh Triệu Hồng H đã xuất cảnh ngày 12/12/2018 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- [2] Nguyên đơn là chị Bàn Thị S chỉ cung cấp được địa chỉ cư trú cuối cùng của anh H ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ của anh H ở nước ngoài. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ở nước ngoài, không đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để tham gia tố tụng, căn cứ Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được.
- [3] Anh H mặc dù không có văn bản thể hiện quan điểm của mình gửi về cho Tòa án, nhưng thông qua thân nhân của anh H và tại buổi làm việc, anh H có gọi điện trực tiếp về cho gia đình, nên có đủ căn cứ xác định anh H vẫn liên hệ với gia đình, nhưng gia đình anh H và anh H không cung cấp địa chỉ của anh H tại Đài Loan cho Tòa án. Theo công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung
- [4] Hôn nhân giữa chị Bàn Thị S và anh Triệu Hồng H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp.
- [5] Về con chung: Chị Bàn Thị S và anh Triệu Hồng H có 01 con chung là Triệu Nam H1, sinh ngày 18/7/2012, hiện nay đang ở cùng với chị S tại Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Anh H và chị S đều có nguyện vọng được nuôi con chung. Tại bản tự khai của cháu Triệu Nam H1 là con chung của chị S và anh H, cháu H1 có nguyện vọng được tiếp tục ở với chị S khi cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử thấy, Tại thời điểm chị S có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Triệu Hồng H, anh H không có mặt tại nơi đăng ký thường trú tại Việt Nam. Trong khi chị S hiện đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam, có nơi cư trú ổn định và có thu nhập. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển đầy đủ cả về thể chất và tinh thần cho con chung khi cha mẹ ly hôn. Do vậy, cần giao con chung của chị Bàn Thị S và anh Triệu Hồng H cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (hoặc có sự thay đổi khác) là phù hợp với thực tế, đảm bảo đúng các quy định tại Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình của Việt Nam.
Sau khi kết hôn, giữa anh chị đã nẩy sinh mâu thuẫn, có nhiều lời nói xúc phạm nhau. Đến năm 2018, anh H đi lao động ở nước ngoài. Qua điện thoại và mạng xã hội, anh chị thường xuyên cãi nhau, không hợp nhau về cách sống và tư tưởng sống, từ năm 2019 anh chị không còn liên lạc với nhau. Chị S xin ly hôn, anh H nhất trí. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S, cho chị S được ly hôn với anh H là phù hợp thực tế và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Bàn Thị S không yêu cầu anh Triệu Hồng H cấp dưỡng tiền nuôi con. Do đó, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Triệu Hồng H cho đến khi có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị S và anh H không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6] Án phí: Chị Bàn Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
- [7] Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ và đúng pháp luật, cần được chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83 Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bàn Thị S đối với anh Triệu Hồng H
- 1. Về hôn nhân: Chị Bàn Thị S được ly hôn anh Triệu Hồng H
- 2. Về con chung: Giao cháu Triệu Nam H1, sinh ngày 18/7/2012 cho chị Bàn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Triệu Hồng H có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- 3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
- 4. Án phí: Chị Bàn Thị S phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000239 ngày 07/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do chị S không yêu cầu.
Chị Bàn Thị S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Triệu Hồng H được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hoàng Văn Giang |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S H
