Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số 18/2025/HS-ST

Ngày: 12 - 3 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Vũ Xuân Thuỳ;
  • Ông Trần Văn Trang.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tùng – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Trinh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS, ngày 24 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Phạm Thành Đ, sinh ngày 29/9/1981; nơi cư trú: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thế N (đã chết) và bà Lê Thị T; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị C (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2005;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 23/5/2023, Chủ tịch UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định ra Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Đến ngày 23/5/2024 chấp hành xong.

Nhân thân:

  • + Ngày 07/8/2008, UBND huyện X, tỉnh Nam Định ra quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng;
  • + Ngày 28/6/2010 bị Công an huyện X xử phạt vi phạm hành chính, hình thức Cảnh cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
  • + Ngày 06/05/2016 bị Công an huyện X xử phạt vi phạm hành chính, hình thức Phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”;
  • + Ngày 21/01/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 27 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong bản án ngày 25/11/2012.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ 26/12/2024 đến ngày 04/01/2025 chuyển tạm giam đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Văn T1, sinh ngày 06/3/1969; nơi cư trú: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình C1 và bà Trần Thị C2 (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1973; có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 03/01/2025 chuyển tạm giam đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

  1. Ông Đỗ Văn C3; “vắng mặt”.
  2. Bà Phạm Thị Thanh M; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 24/12/2024, Phạm Thành Đ mua của một người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực chợ B, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa Heroine với số tiền 400.000 đồng, sau đó Đ mang về nhà và sử dụng hết một phần bằng hình thức chích, phần còn lại cất giấu tại nơi ở để bán kiếm lời.

Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 25/12/2024, Đ đang ở nhà mình thì Trần Văn T1 đi một mình đến gặp Đ tại phòng khách nhà Đ; khi gặp T1 có hỏi: “Mày còn hàng không, để anh cái 100”. Đ hiểu ý là T1 hỏi mua 100.000 đồng ma tuý Heroine nên trả lời “Có đây”. T1 lấy từ túi quần bên phải đang mặc của bản thân ra số tiền 100.000 đồng và đưa cho Đ để mua ma túy H, Đ nhận số tiền 100.000 đồng mà T1 đưa, cất giấu vào túi áo ngực đang mặc rồi lấy từ trong túi quần bên phải ra 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Đ đổ chất bột dạng cục màu trắng bên trong túi nilon ra mặt bàn inox kê sát giường ngủ tại phòng khách rồi dùng dao lam chia một phần chất bột dạng cục màu trắng trong túi nilon ra và dùng 01 tờ giấy trắng có tại mặt bàn gói lại rồi đưa bán cho T1. T1 nhận gói chất bột dạng cục màu trắng Đ đưa, xác định là H, cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi về. Phần còn lại trong túi nilon Đ sử dụng bằng hình thức chích.

Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi T1 đang đi bộ tại trục đường thuộc xóm D, xã X thì bị tổ công tác của Công an huyện X phối hợp cùng Công an xã X tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ 01 gói giấy nhỏ màu trắng kích thước (1x1,5)cm, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng mà T1 đang cầm trong lòng bàn tay trái. T1 khai nhận đây là gói ma tuý Heroine mua của một người đàn ông không quen biết với mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, thu giữ niêm phong gói nhỏ thu giữ của T1 (ký hiệu M) và đưa T1 về trụ sở UBND xã X lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình tiến hành lấy lời khai đấu tranh làm rõ, T1 khai nhận gói ma tuý Heroine lực lượng Công an thu giữ là mua của Phạm Thành Đ với giá 100.000 đồng vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/12/2024.

Căn cứ lời khai của Trần Văn T1 Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện X đã triệu tập Phạm Thành Đ để làm việc. Tuy nhiên, Đ đã bỏ trốn khỏi địa phương cư trú. Đến 7 giờ 00 phút ngày 26/12/2024, Đ đã đến trụ sở Công an huyện X để đầu thú và thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi bán ma tuý trái phép cho Trần Văn T1 vào trưa ngày 25/12/2024, đồng thời tự giác giao nộp số tiền 100.000 đồng là tiền bán ma tuý Heroine cho T1 mà có.

Ngày 25/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện X khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn T1 nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện X khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thành Đ phát hiện, thu giữ: 02 (hai) cân tiểu ly điện tử màu đen, Đ khai nhận dùng để chia bán ma tuý cho người nghiện; 01 (một) lưỡi dao lam đã qua sử dụng, Đ khai nhận dùng để phân, chia ma tuý Heroine bán cho Trần Văn T1 vào ngày 25/12/2024; 01 (một) mảnh giấy màu trắng kích thước (4x8)cm, Đ khai nhận đây là mảnh giấy Đ chuẩn bị để gói ma tuý Heroine bán cho người nghiện.

Tại Bản kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói giấy màu trắng, được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu M: 0,163 gam.

Quá trình điều tra, Phạm Thành Đ và Trần Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 15/CT-VKSXT, ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Phạm Thành Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Trần Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Phạm Thành Đ;

Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuy”; xử phạt bị cáo Phạm Thành Đ từ 02 năm 09 tháng đến 3 năm tù.

Phạt tiền bổ sung bị cáo Phạm Thành Đ từ 5.000.000₫ - 7.000.000₫ để sung ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T1.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng tù.

Không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Trần Văn T1.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 201/KL-KTHS ngày 31/12/2004; 02 cân tiểu ly đã cũ; 01 lưỡi dao lam và 01 mảnh giấy màu trắng.

- Tịch thu để sung ngân sách nhà nước số tiền 100.000đ đã thu giữ của Phạm Thành Đ, là tiền do phạm tội mà có.

Các bị cáo nhận tôi và không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc kết tội: Tại phiên hôm nay bị cáo Phạm Thành Đ thừa nhận hành vi mua ma tuý về chia ra sử dụng bản thân và bán ma túy cho Trần Văn T1 vào ngày 25/12/2024 để lấy 100.000 đồng. Bị cáo Trần Văn T1 thừa nhận hành vi mua 100.000 đồng tiền ma tuý của Phạm Thành Đ để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến; kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở xác định: Với mục đích mua ma túy về chia nhỏ để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người nghiện để kiếm lời. Sáng ngày 24/12/2024, Đ đã mua 400.000 đồng ma tuý tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định về sử dụng cho bản thân; đến khoảng 11 giờ 45 phút ngày 25/12/2025 thì chia nhỏ ra để bán cho cho Trần Văn T1 01 gói nhỏ, khối lượng 0,163gam với giá 100.000 đồng tại phòng khách của gia đình. Khi T1 cầm gói nhỏ ma tuý trong lòng bàn tay đi về chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Thành Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; hành vi của Trần Văn T1 đã đủ yếu tố cầu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi Mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản..., làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Các bị cáo là người nghiện ma túy nên đã thấu hiểu được tác hại của ma túy, trong đó bị cáo Đ còn bán H cho bị cáo T1 để kiếm lời. Bản thân bị cáo Đ đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’ xong bị cáo không lấy đó để làm bài học cho bản thân mà lại đi bán ma tuý để kiếm lời, điều đó thể hiện bị cáo coi thường của pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, năn ăn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo Đ ra đầu thú, bị cáo T1 có thân nhân là liệt sĩ và đang thờ cúng liệt sĩ nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nên HĐXX sẽ áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối bị cáo Phạm Thành Đ theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Đối với bị cáo T1 hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo là người nghiện ma túy nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng thu giữ:

Số ma tuý đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành; 02 cân tiểu ly đã cũ, 01 dao lam và 01 mảnh giấy là vật các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, cho tiêu huỷ.

Số tiền 100.000đ là tiền bị cáo Đ bán ma tuý cho bị cáo T1 mà có nên tịch thu để sung ngân sách nhà nước.

[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Đ vào sáng ngày 24/12/2024: Đ khai không biết tên, tuổi, địa chỉ ngoài ra không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Thành Đ.

  • - Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy";
  • Xử phạt bị cáo Phạm Thành Đ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2024.
  • Phạt bổ sung bị cáo Phạm Thành Đ 5.000.000đ sung ngân sách Nhà nước.

2. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Trần Văn T1.

  • - Tuyên bố bị cáo Trần Văn T1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024.

3. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ các điểm a, b,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 201/KL-KTHS ngày 31/12/2004 của Phòng K Công an tỉnh N; 02 cân tiểu ly đã cũ; 01 lưỡi dao lam và 01 mảnh giấy màu trắng.
  • - Tịch thu để sung ngân sách nhà nước số tiền 100.000đ đã thu giữ của Phạm Thành Đ.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 33/CCTHADS và biên lai thu tiền số 0000258, cùng ngày 25/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện
  • - Chi cục THADS huyện
  • - Công an huyệ
  • - UBND xã
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Phạm Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự về ma túy

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger