TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/DS-ST Ngày: 11-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Văn Thị Ngọc Hà
2. Ông Nguyễn Thanh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 728/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QÐST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ: 2 N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật; Bà Lê Thị Phương T, chức vụ Chuyên viên Quản lý tín dụng và Kiểm soát rủi ro Phòng G – Ngân hàng TMCP S là đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 25/12/2024). (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: 3 H, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/7/2024 và các lần làm việc tại Tòa, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:
Căn cứ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 385/2022 ngày 17/10/2022 được ký kết giữa giữa ông Nguyễn Minh T1 và Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B, Phòng G thì khách hàng được sử dụng thể linh hoạt trong hạn mức tín dụng được cấp, khách hàng được rút và trả tiền quay vòng nhiều lần. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, trong suốt quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông Nguyễn Minh T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 103.900.271 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông Nguyễn Minh T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 74.134.671 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhớ nhưng ông Nguyễn Minh T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Nguyễn Minh T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, tính đến ngày 11/3/2025, ông Nguyễn Minh T1 đã quá hạn 288 ngày. Chi tiết dư nợ các khoản vay như sau:
- + Khoản vay tiêu dùng số 01, số thẻ: 211251-8854: Tổng dư nợ là 35.509.127 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 27.949.178 đồng
- Nợ lãi quá han: 7.559.949 đồng
- + Khoản vay tiêu dùng 02: số thẻ-211251-8574: Tổng dư nợ là 12.419.789 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 9.950.000 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 2.469.789 đồng
- + Khoản vay tiêu dùng số 03: Số thẻ 211251-5015: Tổng dư nợ là 2.660.933 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 1.862.000 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 587 09198.933 đồng
- + Khoản vay tiêu dùng số 04: số thẻ-211251-3523: Tổng dư nợ là 8.779.013 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 7.020.000 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 1.759.013 đồng
Tổng dư nợ của các khoản vay tiêu dùng thẻ nêu trên đến ngày 11/3/2025 là: 59.368.862 đồng, trong đó: Số tiền gốc là 46.781.178 đồng, số tiền lãi là 12.587.684 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP S đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Minh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 11/3/2025 là: 59.368.862 đồng. Đồng thời, ông T1 còn có trách nhiệm thanh toán các khoản lãi phát sinh từ ngày 12/3/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn – ông Nguyễn Minh T1 đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu cho rằng:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đối chiếu quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngân hàng S khởi kiện ông Nguyễn Minh T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ văn bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu tại Công an Phường T, thành phố V thì ông T1 không đăng ký thường trú hay tạm trú tại địa chỉ 3 H, Phường T, thành phố V và hiện nay không sinh sống tại địa chỉ trên. Tại đơn khởi kiện, Ngân hàng đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của ông T1 theo địa chỉ được ghi trong Hợp đồng tín dụng nên được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc của người bị kiện”. Trong vụ án này, ông T1 thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng mà không thông báo cho ngân hàng biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định nên được coi là cố tình giấu địa chỉ nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung là có căn cứ, đúng pháp luật, xác định địa chỉ của ông T1 là 3 H, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa thì thấy: Bị đơn đã được Tòa án đã tống đạt, niêm yết giấy báo hợp lệ yêu cầu đến Tòa để tham gia phiên tòa, tuy nhiên vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, bị đơn không có yêu cầu phản tố; do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Minh T1 phải thanh toán số tiền 59.368.862 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 17/10/2022, ông Nguyễn Minh T1 và Ngân hàng TMCP S đã ký hợp đồng tín dụng số 385/2022, theo đó Ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng với tổng hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng cho ông T1; lãi suất cho vay được áp dụng là 33.2%/năm. Hội đồng xét xử nhận thấy, việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng tín dụng đã ký phù hợp với các quy định tại các Điều 117 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự và phù hợp với các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Do đó, Hợp đồng tín dụng nêu trên có hiệu lực pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết.
Theo Hợp đồng tín dụng đã ký thì khách hàng được sử dụng thẻ linh hoạt trong hạn mức tín dụng được cấp, khách hàng được rút và trả tiền quay vòng nhiều lần. Theo bảng tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp thì tổng số tiền ông T1 đã sử dụng là 103.900.271 đồng. Tính đến ngày 11/3/2025, ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 74.134.671 đồng. Như vậy, số tiền gốc ông T1 còn nợ là 46.781.178 đồng và căn cứ quy định tại Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng thì toàn bộ dư nợ này được chuyển sang nợ quá hạn từ ngày ông T1 vi phạm là ngày 25/9/2024. Tính đến ngày 11/3/2025, ông T1 đã vi phạm 288 ngày nên số tiền lãi suất ông T1 còn nợ là 12.587.684 đồng. Vì vậy, tổng số tiền ông T1 còn nợ Ngân hàng là 59.368.862 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và triệu tập bị đơn đến làm việc liên quan đến việc ký kết hợp đồng và thanh toán nợ tuy nhiên bị đơn vẫn vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong vụ án để giải quyết. Như vậy, có căn cứ xác định ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của mình. Nay Ngân hàng yêu cầu ông T1 phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 59.368.862 đồng là có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy, căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Nguyễn Minh T1; buộc ông T1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 59.368.862 đồng, trong đó gồm 46.781.178 đồng tiền nợ gốc và 12.587.684 đồng tiền lãi.
[2.2] Đối với yêu cầu buộc bị đơn phải trả khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 12/3/2025 đến khi thanh toán hết nợ:
Yêu cầu này của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật và hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17-10-2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17-10-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 12/3/2025 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Nguyễn Minh T1.
Buộc ông Nguyễn Minh T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền 59.368.862 đồng, trong đó gồm 46.781.178 đồng tiền nợ gốc và 12.587.684 đồng tiền lãi.
Kể từ ngày 12/3/2025, ông T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Minh T1 phải nộp 2.968.000 đồng.
H lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 1.200.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004282 ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người vắng mặt cũng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Lợi |
Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 18/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
