TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 18/2025/DS-ST Ngày: 11/3/2025. V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Loan
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Khởi
- Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
- - Thư ký phiên tòa: Bà Quách Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 119/2024/TLST-DS, ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Trụ sở: Số A phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Mỹ T1 – Phó Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Thanh T2, sinh năm 1976 và bà Phan Thị H, sinh năm 1983.
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang. (ông T2 và bà H – vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 24/5/2024 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Nguyên đơn Ngân hàng C (sau đây gọi tắt là Ngân hàng), bà Nguyễn Thị Mỹ T1 trình bày:
Ông Lê Thanh T2 (sau đây gọi tắt là ông T2) và bà Phan Thị H (sau đây gọi tắt là bà H) vay vốn tại Ngân hàng C cụ thể như sau:
- - Vào ngày 24/10/2011 ông T2 và bà H ký kết hợp đồng tín dụng số 6000005800191656 để vay vốn chương trình hộ nghèo về nhà ở theo quyết định 167, thời hạn vay đến ngày 22/10/2021, lãi suất 3%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, với số tiền vay là 8.000.000 đồng. Hiện hợp đồng tín dụng đã quá hạn vào ngày 18/10/2023, lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 3.330.000 đồng.
- - Vào ngày 27/02/2012 ông T2 và bà H ký kết hợp đồng tín dụng số 6000005800191657 để vay vốn chương trình hộ nghèo, thời hạn vay đến ngày 22/02/2014, lãi suất 7,8%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, với số tiền vay là 7.000.000 đồng. Hiện hợp đồng tín dụng đã quá hạn vào ngày 10/5/2020. Lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 320.000 đồng
- - Vào ngày 11/7/2012 ông T2 và bà H ký kết hợp đồng tín dụng số 6000005800191658 để vay vốn chương trình hộ nghèo, thời hạn vay đến ngày 22/6/2014, lãi suất 7.8%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, với số tiền vay là 10.000.000 đồng. Hiện hợp đồng tín dụng đã quá hạn vào ngày 27/7/2015, lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 5.360.000 đồng.
- - Vào ngày 08/6/2016 ông T2 và bà H ký kết hợp đồng tín dụng số 6600000707600711 để vay vốn chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, thời hạn vay đến ngày 07/6/2021, 9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, với số tiền vay là 12.000.000 đồng. Hiện hợp đồng tín dụng đã quá hạn vào ngày 18/6/2023, lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 9.111.000 đồng.
Ngân hàng C yêu cầu buộc ông Lê Thanh T2 và bà Phan Thị H liên đới trả cho Ngân hàng C xã hội tổng số tiền gốc lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 55.121.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 37.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 18.121.000 đồng) và toàn bộ lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi ông T2 và bà H thanh toán hết toàn bộ các khoản nợ.
- Bị đơn ông Lê Thanh T2 và bà Phan Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên không có lời trình bày.
- Tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được bao gồm:
Sổ vay vốn (bản sao); Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay, biên bản làm việc; Bảng tính lãi.
Tại phiên tòa: Đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng C yêu cầu ông T2 và bà H liên đới trả cho Ngân hàng C xã hội tổng số tiền gốc lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 55.121.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 37.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 18.121.000 đồng) và toàn bộ lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi ông T2 và bà H thanh toán hết toàn bộ các khoản nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Thanh T2 và bà Phan Thị H đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng ông Lê Thanh T2 và bà Phan Thị H vẫn vắng mặt. Bị đơn không có yêu cầu phản tố. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Lê Thanh T2 và bà Phan Thị H.
[2] Về nội dung tranh chấp: Ông T2 và bà H có vay vốn tại Ngân hàng C, ông bà ký hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng C – PGD U Minh T3 với tổng số tiền gốc là 37.000.000 đồng cụ thể như sau: Ngày 24/10/2011 ông T2 và bà H ký kết hợp đồng tín dụng số 6000005800191656 để vay vốn chương trình hộ nghèo về nhà ở theo quyết định 167, thời hạn vay đến ngày 22/10/2021, lãi suất 3%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, với số tiền vay là 8.000.000 đồng. Hiện hợp đồng tín dụng đã quá hạn vào ngày 18/10/2023, lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 3.330.000 đồng; Ngày 27/02/2012 ông T2 và bà H ký kết hợp đồng tín dụng số 6000005800191657 để vay vốn chương trình hộ nghèo, thời hạn vay đến ngày 22/02/2014, lãi suất 7,8%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, với số tiền vay là 7.000.000 đồng. Hiện hợp đồng tín dụng đã quá hạn vào ngày10/5/2020. Lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 320.000 đồng; Ngày 11/7/2012 ông T2 và bà H ký kết hợp đồng tín dụng số 6000005800191658 để vay vốn chương trình hộ nghèo, thời hạn vay đến ngày 22/6/2014, lãi suất 7.8%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, với số tiền vay là 10.000.000 đồng. Hiện hợp đồng tín dụng đã quá hạn vào ngày 27/7/2015, lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 5.360.000 đồng; Ngày 08/6/2016 ông T2 và bà H ký kết hợp đồng tín dụng số 6600000707600711 để vay vốn chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, thời hạn vay đến ngày 07/6/2021, 9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, với số tiền vay là 12.000.000 đồng. Hiện hợp đồng tín dụng đã quá hạn vào ngày 18/6/2023, lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 9.111.000 đồng.
Trong quá trình vay ông T2 và bà H đã trả được tiền lãi là 4.569.264 đồng. Các Hợp đồng tín dụng đã quá hạn nhưng phía ông T2 và bà H không thanh toán hết nợ cho Ngân hàng là vi phạm theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Nay Ngân hàng Chính sách xã hội yêu cầu ông T2 và bà H liên đới trả cho Ngân hàng C xã hội tổng số tiền gốc lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 55.121.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 37.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 18.121.000 đồng) và toàn bộ lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi ông T2 và bà H thanh toán hết toàn bộ các khoản nợ là có cơ sở.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh T2, bà Phan Thị H phải liên đới chịu án phí là 55.121.000 đồng đồng x 5% = 2.756.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 144, 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng C về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Lê Thanh T2 và bà Phan Thị H.
Buộc ông Lê Thanh T2 và bà Phan Thị H liên đới trả cho Ngân hàng C xã hội tổng số tiền gốc lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 55.121.000 đồng (năm mươi lăm triệu một trăm hai mươi mốt nghìn đồng) (trong đó, tiền gốc là 37.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 18.121.000 đồng) và toàn bộ lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi ông T2 và bà H thanh toán hết toàn bộ các khoản nợ.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh T2 và bà Phan Thị H phải liên đới chịu án phí là 2.756.000 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
- Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Cẩm Loan |
Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 18/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Chính sách xã hội và ông Lê Thanh Tùng
