Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10-3-2025

V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Quang Vinh
  2. Bà Ngô Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 346/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Chị Y, anh G vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn G vào ngày 22/12/2000, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn, vợ chồng được tự do tự do tìm hiểu và có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau ngày cưới chị về chung sống cùng anh G.

Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì lớn xảy ra. Năm 2016, vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, quan điểm sống khác nhau. Trong cuộc sống hàng ngày và trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột, to tiếng với nhau. Cuộc sống chung vợ chồng thường xuyên căng thẳng và thực sự không còn hoà thuận, hạnh phúc như trước. Do mâu thuẫn trầm trọng nên từ tháng 6/2024, vợ chồng sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ với nhau kể từ đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh G.

Về nuôi con chung: Chị và anh G có 03 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 27/9/2001, Nguyễn Thị H1, sinh ngày 13/6/2005 và Nguyễn Thị H2, sinh ngày 20/6/2008. Hiện cháu H2 do anh G nuôi dưỡng, nay ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu H2. Do cháu H và cháu H1 đều đã trưởng thành trên 18 tuổi nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn G trình bày:

Anh xác nhận về thời gian, điều kiện kết hôn như chị Y trình bày là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc, đến năm 2024 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách không hợp nhau, quan điểm sống khác nhau, hai người không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên to tiếng, cãi vã. Từ tháng 7/2024, chị Y về nhà ngoại ở hẳn, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị Y xin ly hôn, anh nhất trí.

Về nuôi con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 03 con chung như chị Y trình bày. Sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi cháu H2 do cháu H2 đang ở với anh, bản thân anh có đủ điều kiện kinh tế và thời gian để nuôi dưỡng cháu. Do cháu H và cháu H1 đều đã trưởng thành trên 18 tuổi nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã lấy lời khai của con chung Nguyễn Thị H2; mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y, bị đơn anh Nguyễn Văn G vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Cho chị Y được ly hôn anh G; Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị H2, sinh ngày 20/6/2008 cho anh G nuôi dưỡng; đối với con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 27/9/2001, Nguyễn Thị H1, sinh ngày 13/5/2005 đã trưởng thành trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung: Do chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Y làm đơn khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Văn G, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang là nơi bị đơn cư trú giải quyết là đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Y khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh G, yêu cầu được nuôi con chung. Căn cứ Điều 51, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý, giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

[3] Sự vắng mặt của các đương sự: Chị Y, anh G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội dung:

[4] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Y và anh G đăng ký kết hôn ngày 22/12/2000 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên xác định là hôn nhân giữa chị Y và anh G là hợp pháp.

Quá trình chung sống, chị Y và anh G xác định trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường xảy ra bất đồng, không tìm được tiếng nói chung; vợ chồng đã ly thân nhau từ giữa năm 2024 đến nay, không còn quan tâm tới nhau. Nay chị Y xác định không còn tình cảm vợ chồng, yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh G, anh G đồng ý ly hôn.

HĐXX thấy có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh G đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị Y được ly hôn anh G.

[5] Về quan hệ con chung: Chị Y và anh G có 03 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 27/9/2001, Nguyễn Thị H1, sinh ngày 13/6/2005 và Nguyễn Thị H2, sinh ngày 20/6/2008. Chị Y và anh G không yêu cầu giải quyết nuôi con chung Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị H1 do các con đã trưởng thành trên 18 tuổi nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về việc nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị H2, HĐXX thấy rằng: Cháu H2 đang do anh G nuôi dưỡng và có nguyện vọng được ở với bố. Do đó, cần giao con chung Nguyễn Thị H2 cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Y không phải cấp dưỡng nuôi con do anh G không yêu cầu.

Chị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[6] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Chị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử :

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Y ly hôn anh Nguyễn Văn G.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Thị H2, sinh ngày 20/6/2008 cho anh Nguyễn Văn G trực tiếp nuôi dưỡng.

    Chị Nguyễn Thị Y không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

    Chị Nguyễn Thị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh G thực hiện quyền này.

    Về việc nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 27/9/2001, Nguyễn Thị H1, sinh ngày 13/6/2005: Chị Y, anh G không yêu cầu giải quyết do các con đã trưởng thành trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003388 ngày 18/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị Y đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y, anh Nguyễn Văn G vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Tân Thanh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Mai Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger