Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS- ST

Ngày 06/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Anh Tuyết
Thẩm phán:Bà Phạm Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Vũ Thị Dung
Bà Ngô Thị Thơm
Ông Hoàng Sỹ Quang

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vững - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh ngày 08 tháng 11 năm 1966; Nơi sinh tại: Hải Dương; Nơi cư trú: Khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Duy D và bà Nguyễn Thị T; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1992; con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/5/2024, chuyển tạm giam ngày 24/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Chu Thanh N - Luật sư, Văn phòng L2-Đoàn luật sư tỉnh H; địa chỉ: Số A đường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương và bà Luân Thị N1 – Luật sư, Công ty L3 – chi nhánh H1, Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Số H đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Bị hại: Ông Trịnh Đình N2, sinh năm 1957 và bà Lê Thị N3, sinh năm 1961; Đều ở địa chỉ: Số nhà G đường A, khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương (Đều có mặt).

Người làm chứng: Ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1976; Chị Vũ Thị H, sinh năm 1987; Chị Trần Thị V, sinh năm 1984; Bà Ngô Thị Q, sinh năm 1975; Anh Lê Đình V1, sinh năm 1987 (Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 15/5/2024, bà Lê Thị N3 cầm dao chặt cành cây trồng ở vỉa hè trước cửa nhà bà N3 giáp ranh với nhà của anh Nguyễn Duy L1, ở số nhà G đường A. Nguyễn Văn L là bố đẻ của anh L1 từ trong nhà anh L1 đi ra thấy lá cây rơi sang bên vỉa hè trước cửa nhà anh L1, L bảo bà N3 quyét dọn, hai bên có lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau. Bà N3 cầm cành cây khô dài khoảng 1,18m vụt vào vai bên trái của L thì L dùng tay phải tát trúng vào cẳng tay phải bà N3, hai bên xông vào túm giằng co xô đẩy nhau, L dùng tay trái túm giữ tay phải bà N3 đang cầm que, tay phải túm giữ tay trái bà N3 đang cầm dao. Lúc này, bà N3 trong tư thế khom người, L dùng tay ấn đầu bà N3 xuống dưới và túm tay trái bà N3 giằng con dao, tay phải bà N3 cầm que vụt vào cẳng chân trái L 02 cái. Thấy vậy, ông Trịnh Đình N2 (chồng bà N3) cầm 01 thanh kim loại gắn 02 mảnh nhựa màu xanh dài khoảng 93cm từ trong nhà chạy ra vụt và cùng bà N3 túm giằng co với L. Lúc này, L giằng được con dao trên tay bà N3, ông N2 túm giằng co con dao trên tay L, bà N3 cầm que vụt Luông, trong lúc giằng co nhau, ông N2 bị chúi người xuống hai tay chống xuống đất, L dùng tay trái ấm đầu ông N2 xuống, tay phải cầm dao chém 01 nhát từ trên xuống vào đỉnh đầu ông N2, làm ông N2 bị thương tích ngã ngửa xuống vỉa hè trước cửa nhà anh L1. Bà N3 cầm que xông vào vụt L, thì L dùng tay trái túm giằng que, tay phải cầm dao chém liên tiếp 03 phát về phía bà N3, bà N3 bỏ chạy về hướng cửa nhà chị Trần Thị V, sinh năm 1984, ở Số nhà H, đường A được khoảng 03 bước thì L đuổi theo ngay phía sau tay phải cầm dao chém tiếp 01 nhát vào đỉnh đầu bên trái phía sau bà N3, làm bà N3 bị thương tích. Bà N3 đưa hai tay ôm đầu, thì L dùng tay trái túm cầm tay trái bà N3, tay phải cầm dao chém liên tiếp 02 nhát về phía người bà N3, trong đó 01 nhát chém vào bàn tay phải bà N3, bà N3 đi quay lại chỗ ông N2. Lúc này, ông N2 nhổm đứng dậy, thì L đi đến tay phải cầm dao chém 01 nhát về phía người ông N2 nhưng không trúng, ông N2 cúi xuống nhặt thanh kim loại, thì L xông vào túm giằng thanh kim loại, tay phải cầm dao chém 01 nhát từ trên xuống vào vai bên phải ông N2. Sau đó, ông N2 và bà N3 đi về nhà, L cầm dao đi vào trong nhà anh L1 để dao ở cửa phòng bếp tầng 01 nhà anh L1. Một lúc sau, ông N2 cầm dao đi sang trước cửa nhà anh L1 để tìm L, thì mọi người can ngăn, ông N2 đi về nhà. Hậu quả: Ông N2 và bà N3 bị

thương tích được mọi người đưa cấp cứu, bà N3 bị tổn thương cơ thể là 32%, ông N2 bị tổn thương cơ thể là 24%.

Kết quả khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ án tại khu vực vỉa hè và đường A trước cửa nhà của anh Nguyễn Duy L1 thể hiện: Phía trước khu vực cửa ra vào tầng một nhà của anh L1 lắp đặt 04 mắt camera. Phát hiện tại khu vực vỉa hè rải rác các vết dung dịch màu nâu đỏ không rõ hình nghi là máu kích thức (60 x 40)cm và 01 cành cây khô màu nâu dài 1,18m.

Mở rộng hiện trường: Phát hiện tại vị trí tiếp giáp tường hướng B, cạnh cửa phòng bếp và phòng ngủ tầng 01 nhà anh L1 có 01 con dao bằng kim loại tối màu dài 40cm, cán dao dài 12cm, bản rộng 05cm một cạnh sắc, tại phần lưỡi dao và phần tiếp giáp cán dao với thân dao dính dung dịch màu nâu đỏ. Tại vị trí tiếp giáp với đường và khu vực vỉa hè trước cửa số nhà G đường A, khu dân cư T, phường S phát hiện một đám dung dịch màu nâu đỏ dạng giọt không rõ hình kích thước (1,8 x 1,4)m và 01 thanh kim loại dài 93cm gắn 02 mảnh nhựa màu xanh. Trong khu vực bán mái trước cửa nhà số G đường A, dưới nền lát gạch đỏ, phát hiện rải rác các vết dung dịch màu nâu đỏ, thành giọt không rõ hình, phần rộng nhất kích thước (30 x 20)cm. Thu giữ: 01 thanh kim loại dài 93cm gắn 02 mảnh nhựa màu xanh, 01 cành cây khô màu nâu dài 1,18m; 01 con dao bằng kim loại tối màu dài 40cm, cán dao dài 12cm, bản dao rộng 05cm một cạnh sắc.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 400 và 401 ngày 06/11/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Trịnh Đình N2 là 24%. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc gây ra, ông N2 bị người khác dùng dao chém gây ra là phù hợp; Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Lê Thị N3 là 32%. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc gây ra, bà N3 bị người khác dùng dao chém gây ra là phù hợp.

Kết luận giám định số 5373 ngày 04/09/2024 của V2, Bộ C xác định: Đối với 04 tập video lưu trữ trong USB trích xuất từ 04 mắt camera an ninh lắp đặt tại khu vực trước cửa ra vào tầng một nhà của anh Nguyễn Duy L1 không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 04 tập video lưu trữ trong USB gửi giám định về nội dung diễn biến vụ án xảy ra ngày 15/5/2024 tại số nhà G đường A, phường S, TP C.

Kết luận giám định pháp y tâm thần số 356 ngày 04/12/2024 của V3 xác định: Trước, trong khi thực hiện hành vi giết ông Trịnh Đình N2 và bà Lê Thị N3 vào ngày 15/5/2024 và tại thời điểm giám định Nguyễn Văn L không có bệnh tâm thần. Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Về vật chứng được thu giữ, gồm: 01 thanh kim loại gắn 02 mảnh nhựa màu xanh dài 93cm, 01 cành cây khô màu nâu dài 1,18m; 01 con dao bằng kim loại tối màu dài 40cm, cán dao dài 12cm, bản rộng 05cm một lưỡi sắc.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn L tác động gia đình bồi thường thiệt hại là 250.000.000đồng. Ông N2 và N3 không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSHD- P2 ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn L về tội Giết người theo các điểm a, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Văn L phạm tội Giết người. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123, Điều 47; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 13 năm đến 13 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2024. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Ngoài ra còn đề nghị xem xét, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

* Người bào chữa cho bị cáo L: Nhất trí luận tội của đại diện VKS về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Luật sư N1 đề nghị áp dụng cho bị hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Luật sư N đề nghị HĐXX xem xét cân nhắc về tình tiết định khung theo điểm a khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự để đảm quyền lợi cho bị cáo. Các luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại 250.000.000 đồng thể hiện rõ ý thức ăn năn hối cải, bị cáo trước đây và hiện tại mắc nhiều bệnh do tuổi cao, đã phải tiến hành phẫu thuật nên việc cải tạo tại nơi giam giữ gặp nhiều khó khăn cho việc đảm bảo vệ sinh cá nhân hàng ngày, bị cáo đã nhiều tuổi và sức khỏe yếu đang phải uống thuốc chữa bệnh để cho bị cáo L được hưởng mức án thấp nhất có thể, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

* Bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội, nhất trí tội danh như VKS truy tố, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm trở lại với gia đình và hòa nhập với xã hội.

* Bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã cơ bản thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo, người bào chữa, bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[1.2] Đối với những người làm chứng vắng mặt, đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa, bị cáo và bị hại đề nghị xét xử vắng mặt người làm chứng nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi: Lời khai của bị cáo L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ ngày 15/5/2024, do có mâu thuẫn nhỏ nhặt, tại trước cửa nhà số G đường A, khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương Nguyễn Văn L đã có hành vi dùng dao dựa dài 40cm, bản rộng 05cm một lưỡi sắc chém nhiều nhát vào vùng đỉnh đầu và vai bên phải của ông Trịnh Đình N2, làm ông N2 bị thương, chấn thương sọ não gây vỡ xương đỉnh 2 bên và bị thương ở vai bên phải, tổn thương cơ thể là 24% và chém bà Lê Thị N3 06 nhát, trong đó 01 nhát chém vào đỉnh đầu bên trái và 01 nhát chém vào bàn tay phải, làm bà N3 bị thương, chấn thương sọ não, vỡ xương đỉnh trái, chảy máu dưới nhện, đứt bán phần cơ ngón út và vỡ nền xương đốt 5 bàn tay phải, tổn thương nhánh dây thần kinh trụ, tổn thương cơ thể là 32%.

[3] Về tội danh: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng dao dựa chém nhiều nhát vào bị hại trong đó có nhát bị cáo chém trực tiếp vào đỉnh đầu của ông N2, bà N3, hậu quả ông N2 bị tổn thương cơ thể là 24%, bà N3 bị tổn thương cơ thể là 32%. Qua các vết thương của bị hại, và hình ảnh trích xuất từ dữ liệu Camera thu giữ được từ hiện trường vụ án thì thấy hành vi của bị cáo L thể hiện rõ tính chất côn đồ và với mong muốn tước đoạt tính mạng của cả ông N2 và bà N3 nên thấy hành vi của bị cáo L thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội giết người thuộc trường hợp “Giết 02 người trở lên” và phạm tội “Có tính chất côn đồ” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ chấp nhận đề nghị của luật sư N. Do đó, việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội danh, điều khoản áp dụng như bản cáo trạng nêu trên là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về nhân thân và tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và qua việc hỏi làm rõ tại phiên tòa có căn cứ xác định bị cáo hiện sức khỏe yếu do mắc nhiều bệnh, đang phải sử dụng thuốc điều trị do gia đình bị cáo gửi vào nơi tạm giam để chữa bệnh, bị cáo hiện gặp khó khăn trong việc giữ vệ sinh cá nhân hàng ngày. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an để “đầu thú” khai nhận hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 250.000.000 đồng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương và Huy chương kháng chiến nên bị cáo L được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với việc luật sư N1 đề nghị áp dụng cho bị cáo L tình tiết giảm nhẹ theo điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đã được đại diện Viện kiểm sát đối đáp với lập luận để không chấp nhận đề nghị của luật sư là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[5] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo L xâm phạm đến tính mạng của bị hại được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hải Dương nên cần cách ly bị cáo L ra khỏi xã hội một thời gian phù hợp để trừng trị, giáo dục bị cáo phấn đấu rèn luyện trở thành người sống có ích cho xã hội và góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy cũng cần xem xét đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đã hoàn thành nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra trên thực tế nên được hưởng mức án theo Điều 57 của Bộ luật Hình sự, sức khỏe bị cáo yếu do có nhiều bệnh, đồng thời cũng xem xét đến nguyên cớ do bị hại có lời nói, hành vi xử sự chưa được phù hợp trong lúc hai bên xảy ra cãi vã đã dẫn đến việc bị cáo giằng lấy con dao từ tay bị hại để thực hiện hành vi phạm tội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Hiện bị hại xác định đã giải quyết, bồi thường xong toàn bộ về dân sự, không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết trong vụ án.

[7] Về vật chứng:

[7.1] Đối với con dao dựa bị cáo dùng để phạm tội là tài sản của bị hại, hiện bị hại đề nghị không nhận lại, giá trị sử dụng không còn nên tịch thu, cho hủy bỏ là đúng quy định.

[7.2] Đối với các vật chứng còn lại liên quan đến vụ án, được thu giữ trong quá trình điều tra, hiện không có giá trị nên cần tịch thu, cho hủy bỏ là đúng quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điểm a, n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 47; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội giết người.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 13 (mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra việc giải quyết.
  4. Về vật chứng, xử: Tịch thu, cho hủy bỏ 01 con dao bằng kim loại, 01 thanh kim loại, 01 cành cây khô.

    Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng lưu trong hồ sơ vụ án.

  5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - CQ CSĐT - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - CQTHAHS- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Tòa, HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS- ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về giết người

  • Số bản án: 18/2025/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger