|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06-3-2025
“Về việc tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thạch Hùng.
Ông Nguyễn Trung Chánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Nhi là Thẩm viên Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần tham gia phiên tòa: Ông Thạch I Ran, Kiểm sát viên.
- Người hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần: Ông Đặng Văn T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
- Người hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần tại phòng xét xử trực tuyến tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã H, huyện T: Ông Huỳnh Minh T1 – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 151/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị P, sinh năm 1976 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Danh H, sinh năm 1972 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị Phương trình B có nội dung: Chị xác lập quan hệ vợ chồng với anh Danh H vào năm 1996, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn.
Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung gồm: Cháu Danh B1, sinh năm 1997 và cháu Danh Thị Bảo T2, sinh năm 1999, đã thành niên sống tự lập không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên nhân mâu thuẫn: Do anh Danh H thường xuyên bạo lực gia đình nhiều lần đánh chị nên thường xuyên cự cải qua lại với nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, do chị thương con nên cố gắng chịu đựng, nhưng anh Danh H vẫn không thay đổi, gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải hàn gắn nhưng vẫn không hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh H yêu cầu được ly hôn
- Bị đơn anh Danh H vắng mặt không có lời trình bày.
Đối với bị đơn anh H đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ nhưng anh H không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa xét xử, nên Tòa án không lấy lời khai của bị đơn được và bị đơn cũng không nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gì để phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị P.
Vì vậy Tòa án không kết luận được những vấn đề mà các đương sự đã thống nhất và không thống nhất.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự là vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị P với anh Danh H là vợ chồng; về con chung: Cháu Danh B1, sinh năm 1997 và cháu Danh Thị Bảo T2, sinh năm 1999, đã thành niên sống tự lập, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét, giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Danh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án xét xử vắng bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh H xác lập quan hệ hôn nhân có tổ chức đám cưới theo phong tục vào năm 1996 nhưng không có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là không hợp pháp và không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[3] Theo chị P trình bày thì trong thời gian sinh sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh H thường xuyên bạo lực gia đình nhiều lần đánh chị, từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng đến nhau mỗi người sống một nơi chị đi làm thuê tại tỉnh Cà Mau, còn anh H thì đi làm thuê tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chị và anh H đã sống ly thân từ đầu năm 2016 cho đến nay mỗi người sống một nơi mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H đến giải quyết vụ án nhưng anh cố tình vắng mặt không có lý do, đáng lẽ ra anh muốn hàn gắn tình cảm với chị P thì khi Tòa án triệu tập thì anh phải có mặt để trình bày nguyện vọng của mình để Tòa án xem xét, nhưng ngược lại anh bỏ mặc, không quan tâm đến việc giải quyết vụ án thể hiện ý chí của anh xem thường, không chấp hành yêu cầu của Tòa án cũng như không quan tâm đến việc hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này với chị P. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị P và anh H xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 1996 nhưng cho đến nay không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho nên hôn nhân của anh, chị là không hợp pháp và không được pháp luật công nhận là vợ chồng, nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ không công nhận chị P và anh H là vợ chồng.
[4] Về con chung: Xét thấy cháu Danh B1, sinh năm 1997 và cháu Danh Thị Bảo T2, sinh năm 1999, đã thành niên sống tự lập, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết;
[5] Về tài sản chung: Chị P khai không có, đối với anh H thì không có ý kiến gì phản đối, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Chị P khai không có, đối với anh H thì không có ý kiến gì phản đối, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
[8] Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dung Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Áp dụng các Điều 9, 14, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị P.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị P với anh Danh H là vợ chồng.
- Về con chung: Cháu Danh B1, sinh năm 1997 và cháu Danh Thị Bảo T2, sinh năm 1999, đã thành niên sống tự lập, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Trần Thị P phải chịu 300.000 đồng nhưng cần được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006504, ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần; chị P đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để xin xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hoàng Ân |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Phương khởi kiện ly hôn với anh Danh Hai
