|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày: 04 - 3 - 2025 |
— — — — — — — — — — — — — — — |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức và ông Nguyễn Thành Phước
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/TLST-HS, ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05 tháng 9 năm 2003 tại huyện T, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Con ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1974 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1981; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 10 năm 2024 cho đến nay tại Phân trại Tạm giam khu vực T - Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).
-
Mai Tuấn K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 13 tháng 12 năm 2003 tại huyện T, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Con ông Mai Thanh H1, sinh năm 1972 và bà Phan Thị N, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 10 năm 2024 cho đến nay tại Phân trại Tạm giam khu vực T - Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1974 (có mặt)
Cư trú: Ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1970 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 14 tháng 10 năm 2024, Mai Tuấn K nhắn tin qua M rủ Nguyễn Quốc T góp tiền mua ma túy sử dụng, T đồng ý góp 500.000 đồng, nên T điều khiển xe mô tô biển số 67K8-7404 chở K đến khóm P, thị trấn P, huyện T. Đến đây, T để K xuống xe đi bộ vào bãi đất trống, gặp người thanh niên (không rõ nhân thân) mua 300.000 đồng ma túy. K giấu bọc nilon có ma túy vào quần lót đang mặc, rồi T chở K về tìm nơi sử dụng ma túy. Trên đường đi qua khu vực ấp V, xã V huyện T vào khoảng 21 giờ cùng ngày, T và K có biểu hiện nghi vấn, nên bị Công an xã V, huyện T kết hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và ma túy, Công an huyện T (cũ) tuần tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng là một bọc nilon trong suốt được hàn kín, chứa tinh thể màu trắng. T và K thừa nhận tinh thể màu trắng là ma túy đá.
Kết luận giám định số 1471/KL-KTHS(MT-GT) ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A xác định: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5535g.
Phiếu kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Công an xã V ghi nhận: Nguyễn Quốc T, Mai Tuấn K dương tính với ma túy, loại Methamphetamin.
Vật chứng và tài sản thu giữ: 01 bọc nilon trong suốt, được hàn kín, bên trong có chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy); 01 xe mô tô biển kiểm soát 67K8-7404, loại Jupiter; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21S màu xanh đen, có gắn sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, loại Cc3i, màu đỏ đen, có gắn sim; 01 miếng băng keo màu trắng, bên trong có dán mảnh giấy loại giấy tập.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSTS ngày 17 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc T, Mai Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quốc T, Mai Tuấn K khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung đã nêu.
Ông Nguyễn Quốc T1 trình bày: Xe mô tô biển số 67K8-7404 của ông T1. Ông không biết T sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi mua ma túy. Ông T1 xin nhận lại xe
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17; 58; 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt: Bị cáo Mai Quốc T2 từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy bọc nilon bên trong có chứa ma túy và 01 miếng băng keo màu trắng, bên trong có dán mảnh giấy loại giấy tập, 03 sim điện thoại là công cụ phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng; Trả lại cho ông T1 xe mô tô biển số 67K8-7404; Tịch thu bán phát mãi sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động thu của các bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Các cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- - Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt văn bản triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc T, Mai Tuấn K đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 14 tháng 10 năm 2024, tại khu vực ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, Nguyễn Quốc T và Mai Tuấn K đã bị phát hiện và bắt quả tang khi có hành vi tàng trữ trái phép 01 bọc nilon trong suốt chứa tinh thể màu trắng. Qua giám định đã xác định chất trong bọc chứa là ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,5535gam.
[3] Hành vi của các bị cáo Nguyễn Quốc T, Mai Tuấn K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và an toàn cho xã hội, là nguyên nhân nảy ra nhiều loại tội phạm khác, làm quần chúng nhân dân bất bình, lên án. Do đó, cần xử lý nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và phải chịu chế tài hình sự nghiêm khắc nhưng vẫn cố ý cùng nhau thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Đối với người có liên quan trong vụ án: Thanh niên bán ma túy cho K, hiện không rõ nhân thân, nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý là phù hợp, đúng pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp và tài sản, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy bọc nilon bên trong có chứa ma túy và 01 miếng băng keo màu trắng, bên trong có dán mảnh giấy loại giấy tập, 03 sim điện thoại là công cụ phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng; Trả lại cho ông T1 xe mô tô biển số 67K8-7404; Tịch thu bán phát mãi 02 điện thoại di động thu của các bị cáo dùng vào việc phạm tội.
[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc T, Mai Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17; 58; 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15 tháng 10 năm 2024).
- - Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17; 58; 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Mai Tuấn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15 tháng 10 năm 2024).
- - Căn cứ các Điều 46; 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định, khối lượng 0,5185g; 01 (một) miếng băng keo màu trắng, bên trong có dán mảnh giấy loại giấy tập; 01 (một) sim điện thoại số 0393.484.xxx; 01 (một) sim điện thoại số 0564.509.xxx và 01 (một) sim điện thoại số 0896.787.xxx.
- - Tịch thu bán phát mãi sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21S màu xanh - đen (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, loại C3i, màu đỏ - đen (đã qua sử dụng).
- - Trả lại cho ông Nguyễn Quốc T1 01 (một) xe mô tô biển số 67K8-7404, loại Jupiter, màu xanh - đen (đã qua sử dụng).
- (Đặc điểm theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện T (cũ) với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn ngày 20 tháng 01 năm 2025).
- - Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Quốc T, Mai Tuấn K mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Giang |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T, K đồng phạm
