Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐẤT

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 28-02- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Sơn

Bà Nguyễn Thị Di

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Duyên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ T – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Ngô Toàn Đ, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2007, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Ngô Thanh T1, sinh năm: 1970; Mẹ: Phan Thị Thúy K, sinh năm: 1982; Vợ, con: Không.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 104/LC-ĐTTH ngày 19/11/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện L (nay là huyện L); Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 03/LCCT-VKSLĐ ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 13/LCCT-TA ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hiện bị cáo đang cư trú tại tổ A, thôn P, xã T, thị xã P tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Toàn Đ: Bà Nguyễn Ngọc Bảo A – Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ngô Toàn Đ:

- Ông Ngô Thanh T1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt.

- Bà Phan Thị Thúy K, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.

Bị hại: Bà Đường Ni N, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cháu Trần Tuấn Gia B, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt.

2. Cháu Nguyễn Thị Thu T2, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2011; Địa chỉ: Ấp P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Cháu Lương Nguyễn Bích T3, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2010; Địa chỉ: Khu phố Ô, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt.

2. Cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2008; Địa chỉ: Nhà T thuộc tổ E, khu phố L, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt.

3. Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 2006; Địa chỉ: nhà T thuộc tổ E, khu phố L, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955; địa chỉ: Tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu – Là bà ngoại của cháu Trần Tuấn Gia B. Có mặt.

2. Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu – Là bố của cháu Nguyễn Thị Thu T2. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của những người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị Cẩm D1, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố Ô, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu – Là mẹ của cháu Lương Nguyễn Bích T3. Có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1980; địa chỉ: Nhà trọ K1 thuộc tổ E, khu phố L, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. – Là mẹ của cháu Nguyễn Thị Trà M. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/9/2024, Ngô Toàn Đ điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đen (không gắn biển số) chở Nguyễn Thị Thu T2, Nguyễn Thị Trà M điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu xanh (không gắn biển số) chở L Nguyễn Bích T3 và Trần Tuấn Gia B điểu khiển xe mô tô, loại xe Cub, màu trắng, biển số 60AM-033.10 đi đến khu vực bãi biển "" thuộc thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chơi. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ phát hiện 01 xe mô tô, biển số 72K1-373.85, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đen - xanh của bà Đ1 Ni Na đang dựng ở bãi đỗ xe công viên bờ kè cách vị trí của Đ ngồi khoảng 10 mét, không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô trên. Đ rủ Thu T2 cùng trộm cắp chiếc xe mô tô trên, T2 đồng ý. Thực hiện ý định, Thu T2 đến gần thấy xe không có chìa khóa và không khóa cổ nên dùng tay đẩy bộ xe đi khoảng 05 mét rồi ngồi trên xe, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đen (không gắn biển số) đi phía sau dùng chân đẩy xe về thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi Đ và Thu T2 đẩy xe đến khu vực ngã ba đường thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L thì xảy ra va chạm làm Thu Trâm té ngã bị thương ở chân, nên Đ nói với B ngồi trên xe trộm cắp được để Đ tiếp tục đẩy, còn Thu T2 điều khiển xe của B, B đồng ý. Cả nhóm đi về nhà của Đ tại thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Đến nơi, Đ đẩy xe trộm cắp được vào trong nhà của Đ cất giấu.

Từ ngày 14/9/2024 đến ngày 16/9/2024, Đ cùng Nguyễn Quốc V tháo biển số xe mô tô trộm cắp trên cất giấu tại nhà Đ và cả hai sử dụng xe mô tô trên để thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã P. Ngày 18/9/2024, Cơ quan Công an thị xã P phát hiện vụ việc nên đưa Ngô Toàn Đ và Nguyễn Quốc V về trụ sở làm việc.

Sau khi phát hiện bị mất trộm xe, ngày 18/9/2024, bà Đường Ni N đến Công an thị trấn L trình báo vụ việc.

Tại Cơ quan điều tra, Ngô Toàn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. (Bút lục số: 89 - 102)

Tại Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 03/10/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự UBND huyện L (nay là huyện L) kết luận: 01 xe mô tô, biển kiểm soát 72K1-373.85, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - xanh, số khung: C6J0GY224032, số máy: 5C6J224041, đã qua sử dụng (thời điểm định giá 10/9/2024), trị giá 5.060.000 đồng.

Tại Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 6893/KLGDĐT-C09B ngày 15/11/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tại thời điểm giám định (tháng 11 năm 2024) Nguyễn Thị Thu T2 có độ tuổi từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm. (Bút lục số: 48 - 52)

* Việc thu giữ và xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô, biển số 72K1-373.85, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - xanh của bà Đ1 Ni Na, ngày 05/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện L (nay là huyện L) đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho bà N.

- Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen (không gắn biển số), số máy: 5C64417983, số khung: RLCS5C640BY417982, Đ sử dụng để đẩy xe trộm cắp được. Qua tra cứu xác định, xe mô tô trên có biển số 73M1- 1764 do anh Phạm Văn H1 (sinh năm: 1992; HKTT: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình) đứng tên đăng ký. Hiện nay, anh H1 không có ở địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục tạm giữ xe mô tô trên để xác minh, theo quy định của pháp luật. (Bút lục số: 71 - 76 )

* Về trách nhiệm dân sự: bà Đường Ni N đã nhận lại tài sản, không có cầu bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số 12/CT-VKSVT ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất truy tố bị cáo Ngô Toàn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Ngô Toàn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Toàn Đ từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

- Ý kiến của luật sư Nguyễn Ngọc Bảo A bào chữa cho bị cáo Ngô Toàn Đ:

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nên luật sư không tranh luận về tội danh của bị cáo do Viện kiểm sát đã đưa ra.

Về hình phạt: Do hoàn cảnh gia đình của bị cáo có ba mẹ ly hôn, bị cáo nghỉ học sớm nên không nhận được đủ sự dạy dỗ quan tâm của gia đình và nhà trường, tại thời điểm phạm tội, bị cáo dưới 18 tuổi nhận thức pháp luật còn rất hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình tố tụng thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; thiệt hại do bị cáo gây ra là không lớn, bị hại đã nhận lại được tài sản do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự thuộc các điểm i, h, s Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54, Điều 65, Điều 173 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo giao bị cáo cho gia đình và địa phương quản lý cũng đã đủ tính răn đe và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với phần trình bày của luật sư, thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo không có tranh luận với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

Ông Ngô Thanh T1 là người giám hộ cho bị cáo đồng ý với ý kiến bào chữa của luật sư và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Chiếc xe do bị cáo chiếm đoạt đã qua sử dụng (thời điểm định giá 10/9/2024), trị giá 5.060.000 đồng, sau đó bị cáo đã sử dụng chính chiếc xe này cùng với đối tượng Nguyễn Quốc V thực hiện liên tiếp 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó ý kiến của luật sư về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự “phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” là không có cơ sở. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm về việc đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong vụ án này đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại: Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận:

Vào khoảng 16 giờ ngày 10/9/2024, tại khu vực bãi biển "" thuộc phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Ngô Toàn Đ đã cùng với Nguyễn Thị Thu T2 có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô, biển số 72K1-373.85, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đen - xanh, trị giá 5.060.000₫ (Năm triệu, không trăm sáu mươi ngàn đồng) của bà Đường Ni Na . Trong quá trình di chuyển từ thị trấn L về thị xã P, do T2 bị té ngã nên Trần Tuấn Gia B đã giúp sức cho Thu T2 và Đ bằng cách ngồi trên xe trộm cắp được để Đ đẩy xe từ thị trấn L chạy về thị xã P cất dấu xe tại nhà của Đ.

Tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Thị Thu T2 và Trần Tuấn Gia B là đồng phạm của Đ trộm cắp tài sản, tuy nhiên do Thu T2 và Gia B dưới 14 tuổi nên không đủ tuổi bị truy cứu trách nhiệm hình sự quy định của Điều 12 Bộ luật Hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Ngô Toàn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất.

[3] Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

Khi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình tố tụng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản là chiếc xe của bà Đ1 Ni Na và sau đó còn sử dụng chiếc xe này làm phương tiện để trộm cắp các tài sản khác do đó ý kiến của Viện kiểm sát về việc không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.

Về nhân thân: Ngoài hành vi trộm cắp này, bị cáo còn sử dụng chiếc xe chiếm đoạt được của bà Ni N để cùng với Nguyễn Quốc V còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản là xe moto trên địa bàn thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tuy nhiên do Cơ quan Điều tra chưa xác định được bị hại nên đang tiếp tục điều tra, xác minh. Do đó, khi xem xét lượng hình cần cân nhắc để đưa ra hình phạt nghiêm khắc dành cho bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

[5]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bà Đường Ni N đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[6]. Các vấn đề khác:

  • - Nguyễn Thị Trà M và Lương Nguyễn Bích T3, Nguyễn Quốc V biết hành vi trộm cắp tài sản của Ngô Toàn Đ nhưng không tố giác tội phạm. Tuy nhiên, hành vi trộm cắp tài sản Đ thuộc khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên hành vi của Nguyễn Thị Trà M, Lương Nguyễn Bích T3 và Nguyễn Quốc V không bị xử lý hình sự về tội “Không tố giác tội phạm” là đúng quy định.
  • - Ông Ngô Thanh T1 không biết chiếc xe moto biển số 72K1-373.85 là do Đ trộm cắp của bà N nên không bị xử lý hình sự về hành vi “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng quy định.
  • - Đề nghị Cơ quan cảnh sát Điều tra tiếp tục điều tra xác minh đối với hành vi trộm cắp tài sản của Ngô Toàn Đ và Nguyễn Quốc V trên địa bàn thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để xử lý theo quy định pháp luật.

[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí 200.000 đồng theo quy định Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91, Điều 101 Điều 38 Bộ luật Hình sự:
    1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Toàn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Toàn Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt để thi hành án.
  2. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ngô Toàn Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).
  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PC06; PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Viện kiểm sát huyện Long Đất;
  • - Công An huyện Long Đất;
  • - Chi cục THADS huyện Long Đất;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại và những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đinh Thị Châm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91, Điều 101 Điều 38 Bộ luật Hình sự: 1.1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Toàn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 1.2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Toàn Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt để thi hành án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger