Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân.
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Lâm Sơn; bà Đào Thị Thu Vân.
  • Thư ký phiên tòa: ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Vương C, sinh ngày 19/6/1994; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: tổ 06, ấp Tấn Long, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đon và bà Nguyễn Thị Tuyết Ba; vợ là NLC2 và có 03 người con; Tiền án: không; Tiền sự: không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2024 đến nay, có mặt.

- Bị hại: bà Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 25/3/1994; nơi cư trú: ấp 4, xã Phú Lợi, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; nơi ở hiện tại: tổ 03, ấp Tấn Long, xã T, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt.

- Người làm chứng: bà NLC1, vắng mặt; bà NLC2, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 04/10/2024, Nguyễn Vương C đi bắt ếch gần nhà của bà Nguyễn Thị Mỹ N tại xã T, huyện C, tỉnh An Giang, C thấy nhà của bà N đóng cửa, không đèn chiếu sáng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.

C đi đến cửa sổ nhà bà N, nhìn vào trong nhà thấy mọi người đã ngủ, C dùng thanh trúc dài 1,62m, thông qua khe hở sàn nhà, khều lấy chìa khóa nhà của bà N, mở khóa cửa đi vào trong nhà, lấy trộm 01 điện thoại di dộng màu xám hiệu Samsung A15, 01 điện thoại di dộng màu hồng hiệu Samsung J7 và tiền mặt 700.000 đồng rồi đi ra khỏi nhà, khóa cửa lại. Phát hiện tài sản bị mất trộm, bà N trình báo tại Công an xã T.

Vật chứng thu giữ: 01 thanh trúc dài 1,62m, đường kính 01cm.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG.TTHS ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Mới xác định: 01 điện thoại di động màu xám, hiệu Samsung A15 trị giá 2.600.000 đồng, 01 điện thoại di động màu hồng, hiệu Samsung J7 trị giá 800.000 đồng, tổng giá trị tài sản: 3.400.000 đồng.

Cáo trạng số 14/CT-VKSCM ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo Nguyễn Vương C về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, C khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bà N có lời khai như cáo trạng đã truy tố, bà N có đề nghị giảm nhẹ nhất về hình phạt cho Nguyễn Vương C, bà N cũng yêu cầu không nhận lại thanh trúc bị thu giữ do không có giá trị sử dụng, đã nhận lại toàn bộ tài sản do C lấy trộm và không có ý kiến gì khác.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt, có mặt có lời khai như cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã công bố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo C từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo và phải chịu thời hạn thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu và tiêu hủy 01 thanh trúc dài 1,62m, đường kính 01cm do bị hại yêu cầu không nhận lại và không có giá trị sử dụng.

Bị cáo không tranh luận, có ý kiến xem xét cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt, được án treo, bị cáo hứa không vi phạm pháp luật và chí thú làm ăn chân chính.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người làm chứng là bà NLC1 đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng họ vắng mặt không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04/10/2024, tại nhà của bà Nguyễn Thị Mỹ N thuộc xã T, huyện C, tỉnh An Giang, lợi dụng lúc bà N đang ngủ, bị cáo Nguyễn Vương C đã có hành vi bí mật, lén lút chiếm đoạt tiền mặt 700.000 đồng và 02 điện thoại di dộng trị giá 3.400.000 đồng, tổng tài sản chiếm đoạt của bà N là 4.100.000 đồng, với mục đích của bị cáo tiêu xài cá nhân.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Vương C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội như sau:

Thời điểm phạm tội, bị cáo C có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Bị cáo Nguyễn Vương C đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây lo lắng cho bị hại. Do đó, cần xử lý nghiêm khắc bằng hình phạt tù đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện trả lại toàn bộ tài sản cho bị hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, trước thời điểm phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, đang trực tiếp nuôi 03 đứa con chưa thành niên; bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên cơ sở bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nhằm tạo cơ hội cho bị cáo tự cải tạo, sửa chữa sai lầm, trở thành người lương thiện, có điều kiện lao động chân chính để nuôi con nhỏ, sống có ích cho gia đình, xã hội. Tòa án quyết định mức hình phạt tù đối với bị cáo nhưng không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù theo ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[4] Bị cáo chưa có nghề nghiệp ổn định, hoàn C gia đình đang khó khăn. Tòa án không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về xử lý vật chứng:

01 thanh trúc dài 1,62m, đường kính 01cm, không có giá trị sử dụng được bị cáo dùng làm công cụ phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy.

01 điện thoại di động màu xám, hiệu Samsung A15, 01 điện thoại di động màu hồng, hiệu Samsung J7, 01 ổ khóa treo màu đen có chữ “YOFE”, 01 ổ khóa vòng bằng kim loại, bên ngoài có ống nhựa màu đỏ, 02 chìa khóa bằng kim loại là tài sản, đồ vật của bà Nguyễn Thị Mỹ N nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bà N theo biên bản ngày 12/12/2024 là có căn cứ.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Vương C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vương C phạm tội “trộm cắp tài sản”;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Vương C 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách cho bị cáo là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ khi tuyên án sơ thẩm ngày 28/02/2025. Giao bị cáo Nguyễn Vương C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy 01 thanh trúc dài 1,62m, đường kính 01cm.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/02/2025, giữa Cơ quan C sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới);

Căn cứ vào Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Vương C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Đội C sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới;
  • - Ủy ban nhân dân xã T, huyện Chợ Mới;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tâm Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI về trộm cắp tài sản (criminal)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 04/10/2024, Nguyễn Vương C đi bắt ếch gần nhà của bà Nguyễn Thị Mỹ N tại xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, C thấy nhà của bà N đóng cửa, không đèn chiếu sáng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Cảnh đi đến cửa sổ nhà bà N, nhìn vào trong nhà thấy mọi người đã ngủ, C dùng thanh trúc dài 1,62m, thông qua khe hở sàn nhà, khều lấy chìa khóa nhà của bà N, mở khóa cửa đi vào trong nhà, lấy trộm 01 điện thoại di dộng màu xám hiệu Samsung A15, 01 điện thoại di dộng màu hồng hiệu Samsung J7 và tiền mặt 700.000 đồng rồi đi ra khỏi nhà, khóa cửa lại. Phát hiện tài sản bị mất trộm, bà N trình báo tại Công an xã Tấn Mỹ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger