|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày: 27-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC,
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Thuỳ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà La Thị Thu Nga
- Bà Đoàn Thị Mến
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Nhân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Say C, sinh năm 1976 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Kim T, sinh năm 1939 (chết) và bà Lý A K, sinh năm 1949; Có vợ là Sâm Mỹ L, sinh năm 1978 (đã ly hôn), có 02 người con (sinh năm 1998 và 2000); Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 26/8/2019 bị Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 108/2019/HS-ST ngày 26/8/2019, đã chấp hành xong ngày 11/02/2020;
- Ngày 13/10/2021 bị Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 114/2021/HS-ST ngày 13/10/2021, đã chấp hành xong ngày 19/7/2022.
Bị bắt ngày 13/10/2024, có mặt
Bị hại:
- - Ông Nguyễn Trung K1, sinh năm 1984, có đơn xin vắng mặt
- - Bà Triệu Thị T1, sinh năm 1987, vắng mặt
- Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- - Ông Lương Trọng Đ, sinh năm 1950, có đơn xin vắng mặt
- - Bà Đỗ Ngọc H, sinh năm 1960, vắng mặt
- Cùng địa chỉ: Tổ F, ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Ông Nguyễn Viết P, sinh năm 1981, vắng mặt
- Địa chỉ: Tổ A, Ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- - Ông Lô Văn T2, sinh năm 1988, vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn G, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Người làm chứng: Ông Lương Hoàng H1, sinh năm 1989, vắng mặt
Địa chỉ: Tổ F, ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo kết quả điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/10/2024, Trần Say C điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 72H7-9042 đến nhà bạn là Lương Hoàng H1 tại ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để nhờ H1 tìm việc làm, nhưng anh H1 không ở nhà. Cẩu đi vòng vòng xung quanh và thấy cạnh nhà anh H1 là nhà ông Lương Trọng Đ không có ai ở nhà, phía sau nhà có 01 dàn máy bơm điện một pha, model: MQDC-402, điện áp 220V.AC, 01 đầu phun áp lực ký hiệu POWER SPRAYER, 01 dàn sắt có gắn bánh lôi để gắn mô tơ và đầu phun áp lực cố định với nhau không có người trông coi, nhà không có tường rào nên nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán kiếm tiền tiêu xài. Cẩu để xe máy trước cổng nhà anh H1 rồi đi bộ qua nhà ông Đ dùng tay tháo dàn máy bơm mang ra xe chở đi tiêu thụ. Khi đến đoạn đường nông thôn thuộc ấp B, xã B, huyện X thì bị Công an xã B phát hiện bắt giữ.
Qua làm việc tại cơ quan điều tra, bị cáo C khai trước đó có thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 11/10/2024, C điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 72H7-9042 đến nhà anh H1 nhờ tìm việc làm nhưng anh H1 không ở nhà nên C quay về. Khi đến ấp B, xã B, huyện X thì C thấy sân nhà ông Nguyễn Trung K1 có 01 dàn máy bơm xịt thuốc nông nghiệp (gồm: 01 máy chạy xăng 6.5hp, công suất đầu nổ 6.5hp, 01 đầu phun xịt công suất 1.5HP, 01 dàn sắt có gắn bánh lôi để gắn mô tơ và đầu phun xịt cố định với nhau) không có người trông coi nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài. Cẩu dùng kìm cộng lực bằng kim loại (mang sẵn trong cốp xe đi làm thuê) cắt lưới hàng rào B40 nhà ông K1 rồi chui vào kéo dàn máy bơm mang ra xe chở đi. Khi đến xã H, không rõ ấp nào, C gặp một người đàn ông không rõ lai lịch và bán máy bơm cho người này giá 800.000 đồng, rồi lấy tiền tiêu xài hết.
Ngày 03/10/2024, C điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 72H7-9042 đi từ huyện C, tỉnh Đồng Nai đến xã H, huyện X. Trên đường đi, Cẩu vào một cửa hàng tạp hoá, không nhớ rõ tên cửa hàng và địa chỉ ở khu vực nào, lấy trộm 02 thùng bia Sài Gòn xanh loại 24 lon mang ra xe chở đi và sử dụng hết.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như đã nêu trên và không có ý kiến gì thêm.
Về kết luận định giá tài sản:
- - Tại Bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐG ngày 15/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện X kết luận 01 dàn máy bơm xịt thuốc nông nghiệp, động cơ điện, gồm có: 01 máy chạy nhiên liệu dầu, motor 6.5HP, công suất 1,5KW, điện 1 pha, Model: MQDC-402, điện áp 220V.AC, do Công ty M sản xuất, 01 đầu phun áp lực, có ký hiệu POWER SPRAYER, 01 dàn sắt có gắn bánh lôi để gắn mô tơ và đầu phun áp lực cố định với nhau có giá 2.700.000 đồng (bút lục số 69).
- - Tại Bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐG ngày 15/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện X kết luận 01 dàn máy bơm xịt thuốc nông nghiệp, động cơ xăng, đã qua sử dụng, gồm có: 01 máy chạy nhiên liệu xăng, motor 2HP; 01 đầu phun xịt công suất 1,5HP, có ký hiệu POWER SPRAYER, 01 dàn sắt có gắn bánh lôi để gắn mô tơ và đầu phun áp lực cố định với nhau có giá 2.100.000 đồng (bút lục số 61).
- - Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 07/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện X kết luận 02 thùng bia S xanh loại 24 lon có giá 504.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có khiếu nại về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Về xử lý vật chứng:
- - 01 dàn máy bơm xịt thuốc nông nghiệp gồm có: 01 mô tơ công suất 1,5KW, động cơ điện 1 pha, Model: MQDC-402, điện áp 220V.AC, 01 đầu phun áp lực có ký hiệu POWER SPRAYER, 01 dàn sắt có gắn bánh lôi để gắn mô tơ và đầu phun áp lực cố định với nhau, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trả lại cho chủ sở hữu ông Lương Trọng Đ;
- - 01 dàn máy bơm xịt thuốc nông nghiệp gồm: 01 máy chạy xăng 6.5hp, công suất đầu nổ 6.5hp, 01 đầu phun xịt công suất 1,5HP, 01 dàn sắt có gắn bánh lôi để gắn mô tơ và đầu phun áp lực cố định với nhau, bị cáo chiếm đoạt ngày 11/10/2024 đã bán cho đối tượng không rõ lai lịch nên không thu giữ được;
- - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 72H7-9042, số máy: E32VE250188, số khung: RLCUE3710LY131744, Cẩu mượn của người bạn tên H2 (không rõ lai lịch ở Đồng Nai vào đầu tháng 10/2024, H2 không đưa giấy tờ xe mà cho số điện thoại để C liên hệ trả xe nhưng C đã làm mất số điện thoại). Qua xác minh, chiếc xe trên có biển kiểm soát: 60H5-210.60, do ông Lô Văn T2 đứng tên chủ sở hữu, ông T2 đã bán xe tại cửa hàng xe máy cũ không rõ tên, địa chỉ tại huyện L, tỉnh Đồng Nai. Đối với biển kiểm soát 72H7-9042 qua xác minh được cấp cho xe mô tô DAYANG loại DY100D do ông Nguyễn Viết P đứng tên chủ sở hữu, ông P đã bán cho người không rõ lai lịch năm 2020. Xe mô tô này gắn biển số không đúng biển số đăng ký và bị cáo đã sử dụng xe này làm công cụ thực hiện tội phạm, hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang tạm giữ;
- - 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu vàng, tay cầm được bọc nhựa màu đen mà bị cáo làm công cụ thực hiện tội phạm, hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang tạm giữ;
- - 01 USB bằng kim loại sáng, trên USB có dòng chữ KingSton lưu trữ 02 đoạn video ghi lại quá trình bị cáo Cẩu trộm cắp tài sản ngày 11/10/2024 do bị hại ông Nguyễn Trung K1 cung cấp được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng, có in hình dấu Công an xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng các chữ ký ghi họ tên: Đinh Văn S, Nguyễn Trung K1, Phan Duy L1, Trần Khánh L2 lưu cùng hồ sơ vụ án.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại ông Lương Trọng Đ sau khi nhận lại tài sản thì ông Đ không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trong quá trình điều tra, bị hại
ông Nguyễn Trung K1 yêu cầu bị cáo Trần Say C bồi thường 2.100.000 đồng, C đồng ý.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 27/CT-VKSXM ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố Trần Say C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố về hành vi của bị cáo Trần Say C và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Trần Say C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 20 tháng đến 24 tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, giao 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, số máy: E32VE250188, số khung: RLCUE3710LY131744 Cơ quan điều tra Công an huyện X để tiếp tục xác minh xử lý theo quy định pháp luật; tịch thu và tiêu hủy 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu vàng, tay cầm được bọc nhựa màu đen; giao cho cảnh sát giao thông 01 biển kiểm soát 72H7-9042 để xử lý theo quy định pháp luật; tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 01 USB bằng kim loại sáng, trên USB có dòng chữ KingSton chứa 02 đoạn video ghi lại hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo.
- - Về bồi thường thiệt hại: Đề nghị buộc bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại ông K1 số tiền 2.100.000 đồng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc.
Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Say C: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh, xét thấy:
[2.1] Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/10/2024, tại nhà ông Lương Trọng Đ, bị cáo lén lút chiếm đoạt 01 dàn máy bơm điện một pha, model: MQDC-402, điện áp 220V.AC, 01 đầu phun áp lực ký hiệu POWER SPRAYER, 01 dàn sắt có gắn bánh lôi để gắn mô tơ và đầu phun áp lực cố định với nhau trị giá 2.700.000 đồng. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 11/10/2024, tại nhà ông Nguyễn Trung K1, bị cáo lén lút chiếm đoạt 01 dàn máy bơm xịt thuốc nông nghiệp, gồm: 01 máy chạy xăng 6.5hp, công suất đầu nổ 6.5hp, 01 đầu phun xịt công suất 1.5HP, 01 dàn sắt có gắn bánh lôi để gắn mô tơ và đầu phun xịt cố định với nhau trị giá 2.100.000 đồng. Tổng cộng tài sản mà bị cáo C chiếm đoạt trị giá là 4.800.000 đồng. Hai lần bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đều đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2.2] Ngày 03/10/2024, tại một cửa hàng tạp hoá, không nhớ rõ tên cửa hàng và địa chỉ ở khu vực nào, bị cáo lén lút chiếm đoạt 02 thùng bia Sài Gòn xanh loại 24 lon trị giá 504.000 đồng. Hành vi này của bị cáo C chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự, an toàn tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, bị Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 26/8/2019 và 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 13/10/2021. Do đó, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù nhằm cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục riêng, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo một mức hình phạt phù hợp.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4.2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu hai lần bị Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản”; từ ngày 03/10/2021 đến ngày 12/10/2021, bị cáo liên tiếp thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, cho thấy bị cáo không ăn năn hối cải. Do đó, không cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo là có căn cứ; đối với hành vi ăn năn hối cải là chưa đủ căn cứ chấp nhận. Do đó, không cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và không xử phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.
[8] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại ông Lương Trọng Đ không yêu cầu nên không xem xét. Trong quá trình điều tra, bị hại ông Nguyễn Trung K1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông K1 số tiền 2.100.000 đồng, bị cáo đồng ý. Kiểm sát viên đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho bị hại ông K1 2.100.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, số máy: E32VE250188, số khung: RLCUE3710LY131744 là công cụ, phương tiện phạm tội và do ông Lô Văn T2 đứng tên chủ sở hữu, ông T2 đã bán xe tại cửa hàng xe máy cũ không rõ họ tên, địa chỉ tại huyện L, tỉnh Đồng Nai nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
- - 01 biển kiểm soát: 72H7-9042 qua xác minh là biển kiểm soát thật do Cơ quan chức năng cấp cho xe mô tô nhãn hiệu DAYANG, số loại DY100D,
màu nâu, số máy VTRDY15FMG80318619, số khung VMXDCG0013U318619 do ông Nguyễn Viết P đứng tên chủ sở hữu, ông P đã bán cho người không rõ lai lịch năm 2020 nên giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện X để tiếp tục xác minh xử lý theo quy định pháp luật;
- - 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu vàng, tay cầm được bọc nhựa màu đen không có giá trị nên tịch thu và tiêu huỷ;
- - 01 USB bằng kim loại sáng, trên USB có dòng chữ KingSton chứa 02 đoạn video ghi lại hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
[10] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng đối với 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu vàng và 01 USB bằng kim loại sáng như nhận định, phân tích của Hội đồng xét xử là có căn cứ nên chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Say C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Say C 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/10/2024.
Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 584, Điều 585 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Trần Say C bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại ông Nguyễn Trung K1 số tiền là 2.100.000₫ (Hai triệu, một trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen, số máy: E32VE250188, số khung: RLCUE3710LY131744.
- - Tịch thu và tiêu huỷ 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu vàng, tay cầm được bọc nhựa màu đen.
- - Giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện X 01 biển kiểm soát: 72H7-9042, được gắn trên xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen, số máy: E32VE250188, số khung: RLCUE3710LY131744 để tiếp tục xác minh xử lý theo quy định pháp luật.
- (Toàn bộ vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 45/BB ngày 22/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc).
- - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB bằng kim loại sáng, trên USB có dòng chữ KingSton chứa 02 đoạn video ghi lại hành vi trộm cắp tài sản của Trần Say C.
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Say C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Kim Thuỳ |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trạn Say C - Trộm cắp tài sản
