Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27 – 02 – 2025

“Vv Tranh chấp hôn nhân gia đình –

Ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Minh Thật
  2. Ông Trương Văn Chung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 253/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình – Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Phạm Cao H, sinh năm 1987 (có mặt).
  2. Cư trú tại: Ấp 12, thị trấn Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

  3. Bị đơn: Chị Trương Mộng T, sinh năm 1987 (có mặt).
  4. Cư trú tại: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phạm Cao H (gọi tắt là anh H) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trương Mộng T tự nguyện kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là thị trấn V), huyện L, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Vì vậy, anh H yêu cầu được ly hôn với chị Trương Mộng T.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Mỹ X (giới tính: nữ), sinh ngày 12/6/2009 và Phạm Thị Tú Q (giới tính: nữ), sinh ngày 06/8/2015 hiện các cháu đang sống với anh H. Anh H yêu cầu được nuôi cả 02 con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trương Mộng T (gọi tắt là chị T) trình bày:

Chị T thống nhất với lời trình bày của anh Phạm Cao H về quan hệ hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẩn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Do tình cảm vợ chồng không còn nên nay anh H yêu cầu ly hôn chị T cũng đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Mỹ X (giới tính: nữ), sinh ngày 12/6/2009 và Phạm Thị Tú Q (giới tính: nữ), sinh ngày 06/8/2015 hiện các con đang sống với anh H. Khi ly hôn chị T đồng ý giao 02 con chung cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Phạm Cao H yêu cầu ly hôn với chị Trương Mộng T, yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không có không yêu cầu.

Tại phiên tòa, chị Trương Mộng T đồng ý ly hôn với anh Phạm Cao H, đồng ý giao con chung cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không có không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn anh Phạm Cao H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu nuôi con chung đối với bị đơn chị Trương Mộng T. Căn cứ theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con chung” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Bị đơn chị Trương Mộng T có địa chỉ cư trú tại ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Cao H và chị Trương Mộng T tự nguyện kết hôn năm 2010, theo anh H và chị T trình bày thì anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã V (nay là thị trấn V), huyện L, tỉnh Hậu Giang và được UBND xã V cấp giấy chứng nhận kết hôn số 16/2010 ngày 28/8/2010, tuy nhiên qua xem xét giấy chứng nhận kết hôn thì không có chữ ký của người chồng là anh H và chữ ký của người vợ là chị T, do đó để đảm bảo tính pháp lý của giấy chứng nhận kết hôn trên Tòa án đã yêu cầu anh H và chị T thực hiện trích lục số bộ đăng ký kết hôn. Tại công văn số 01/UBND ngày 14/01/2025 của UBND thị trấn V thể hiện qua tra cứu sổ bộ hộ tịch lưu trữ tại UBND thị trấn V thì Sổ đăng ký kết hôn năm 2010, phần mềm hộ tịch của UBND xã V không có thông tin đăng ký kết hôn của Phạm Cao H, sinh năm 1987 và bà Trương Mộng T sinh năm 1987.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 18 Luật Hộ tịch 2014định: “Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đìnhchức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ”. Như vậy, trường hợp của anh H và chị T được trao giấy chứng nhận đăng ký kiết hôn, nhưng chưa được ghi vào sổ hộ tịch, anh H và chị T chưa ký tên vào giấy chứng nhận kết hôn nên việc đăng ký kết hôn của anh chị đã không thực hiện đúng thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014nếu việc kết hôn không đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý và quan hệ vợ chồng giữa anh H và chị T chưa được pháp luật công nhận.

Nay anh H có yêu cầu xin ly hôn với chị T và chị T cũng đồng ý nên hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết đối với quan hệ chung sống như vợ chồng của anh anh H và chị T. Theo khoản 2 Điều 53 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng...”. Do đó, hội đồng xét xử không công nhận anh Phạm Cao H và chị Trương Mộng T là vợ chồng.

[2.2] Về con chung: xét yêu cầu nuôi con chung của anh Phạm Cao H hội đồng xét xử thấy rằng:

Anh chị có 02 con chung là Phạm Thị Mỹ X (giới tính: nữ), sinh ngày 12/6/2009 và Phạm Thị Tú Q (giới tính: nữ), sinh ngày 06/8/2015 hiện 02 cháu đang sống chung với anh H được anh H chăm sóc tốt và cháu X, cháu Q đều có nguyện vọng được sống chung với anh H, chị T cũng thống nhất giao cháu X và cháu Q cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó để đảm bảo điều kiện phát triển tốt và đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu X và cháu Q nên hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Phạm Thị Mỹ X và Phạm Thị Tú Q cho anh Phạm Cao H tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Trương Mộng T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh H và chị T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Phạm Cao H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 9; Điều 14; Điều 51; Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Phạm Cao H và chị Trương Mộng T là vợ chồng.
  2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Mỹ X (giới tính: nữ), sinh ngày 12/6/2009 và cháu Phạm Thị Tú Q (giới tính: nữ), sinh ngày 06/8/2015 cho anh Phạm Cao H được quyền nuôi dưỡng (hiện nay các con đang sống chung với anh H).
  3. Chị Trương Mộng T có quyền, nghĩa vụ, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng: Anh Phạm Cao H không yêu cầu nên không xem xét.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Phạm Cao H và chị Trương Mộng T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Anh Phạm Cao H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010444 phiếu lập ngày 19/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án (ngày 27/02/2025).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H. Long Mỹ;
  • - THADS H. Long Mỹ;
  • - UBND thị trấn Vĩnh Viễn;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thúy Ngoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang về tranh chấp hôn nhân gia đình – ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình – Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh H yêu cầu ly hôn với chị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger