|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày: 27-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Lợi.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Văn Lước;
- Bà Nguyễn Thị Kim Cúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 02/2025/HSST- QĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025; đối với bị cáo:
Bùi Văn Ú, sinh năm 1998 tại Kiên Giang; địa chỉ thường trú: Ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B, sinh năm 1955 và bà Trần Thị Bé B1, sinh năm 1964.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 04 tháng 04 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 17/2021/HS-ST. Đã chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ từ ngày 02/10/2024, sáu đó chuyển sang tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH H3. Địa chỉ: T đất số 224, tờ bản đồ số 08, ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: ông Wu Chien T – Chức vụ: phó Tổng Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Nhựt T1, sinh năm 1985. Địa chỉ tạm trú: ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Cháu Nguyễn Công Đ, sinh năm 2008. Địa chỉ: Khu phố B, phường T, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Công Đ: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964. Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường T, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Cháu Đoàn Văn H, sinh năm 2008. Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Đoàn Văn H: Bà Lê Thị Phương A, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, xin vắng mặt
- Cháu Trần Văn D, sinh năm 2008. Địa chỉ: Ấp K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Trần Văn D: Ông Trần Văn K, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở hiện tại: Nhà trọ Đoàn Văn Q thuộc khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn Ú; Quách Văn H1 (sinh năm: 2001), Quách Văn T2 (sinh năm: 2005) cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau; Nguyễn Công Đ (sinh ngày 19/5/2008), Đoàn Văn H (sinh ngày 09/12/2008), Trần Văn D (sinh ngày 30/3/2008) và B, L, C (đều chưa rõ nhân thân lai lịch) là bạn bè quen biết với nhau.
Khoảng 23 giờ ngày 02/11/2023, khi cả nhóm đang ngồi chơi tại phòng trọ số 110 nhà trọ Lê Quang H2 thuộc ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương, T2 rủ cả nhóm đi đến Công ty TNHH H3 thuộc ấp X, xã T, huyện B để tìm tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì cả nhóm đồng ý. B điều khiển xe mô tô biển số 79N9-6270 của D chở lần lượt cả nhóm đến phía trước cổng Công ty TNHH H3. Khi đến nơi, H1 và H đứng bên ngoài phía trước Công ty cảnh giới lực lượng Công an và bảo vệ của Công ty, D đứng bên ngoài trông coi xe mô tô, C đứng bên ngoài bờ rào cảnh giới và chờ lấy tài sản để đem cất giấu, còn lại T2, Đ, Ú, B, L trèo qua hàng rào để vào Công ty tìm kiếm tài sản. T2, Đ, Ú, B, L lấy được số tài sản gồm 04 bình ắc quy, 02 máy mô tơ và 01 tấm chắn khuôn máy bằng kim loại sắt, sau đó đem tất cả số tài sản này đến khu vực bờ rào, T2, B, Ú lấy tấm chắn khuôn máy bằng kim loại sắt đục thủng tường rào rồi di chuyển tài sản ra bên ngoài hàng rào của Công ty. Sau đó, Ú lấy xe mô tô của D chở T2 cùng số tài sản đã lấy được đem cất giấu ở lùm cây gần Công ty rồi cả nhóm đi về phòng trọ của Ú để ngủ. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Ú chở T2 bằng xe mô tô của D, L điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đi đến nơi cất giấu tài sản để đem đi bán. Khi đến nơi, L lấy 03 bình ắc quy đi trước, T2 và Ú chuẩn bị lấy số tài sản còn lại thì phát hiện có lực lượng Công an nên T2 và Ú chạy về phòng trọ của Ú.
Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03/11/2023, Nguyễn Nhựt T1 (sinh năm: 1985; địa chỉ: Khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) đến Công ty thì phát hiện mất trộm tài sản gồm 02 bình ắc quy hiệu GS màu đen, công suất 70 Ampe; 01 bình ắc quy màu trắng công suất 120 Ampe; 01 bình ắc quy đã bị hư; 01 mô tơ điện của Đài Loan sản xuất, loại 3.0 Kw, công suất 4Hp có gắn đầu bơm bằng nhựa; 01 mô tơ điện hiệu Mitsubishi, loại 7.5 Kw, công suất 10Hp và 01 tấm chắn khuôn máy bằng kim loại sắt nên trình báo Công an xã T sự việc. Công an xã T chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 02/10/2024, Bùi Văn Ú bị bắt theo Quyết định truy nã số 95 ngày 31/01/2024 và khai nhận hành vi phạm tội.
Bản kết luận định giá tài sản số 94/KLHĐ-ĐGTS ngày 07/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 25.717.000 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm mười bảy nghìn đồng).
Đối với các vật chứng của vụ án đã được thu hồi, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã giao lại Công ty quản lý, sử dụng.
Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 79N9-6270, là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, xe mô tô đã được giải quyết trả cho ông Trần Văn K (sinh năm: 1978; địa chỉ: ấp K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang) theo Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty TNHH H3 do ông Nguyễn Nhựt T1 làm đại diện theo ủy quyền yêu cầu bồi thường số tiền 4.410.000 đồng (bốn triệu bốn trăm mười nghìn đồng). Yêu cầu này đã được ghi nhận trong Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Cáo trạng số 04/CT-VKS.BTU ngày 18/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo Bùi Văn Ú về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Văn Ú về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn Ú, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn Ú đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Bùi Văn Ú từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.
Đối với các vật chứng của vụ án đã được thu hồi, giải quyết nên không đề nghị xem xét.
Trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết trong Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn Ú cho rằng Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại và các đương sự nêu trên.
- Về nội dung: Vào ngày 03/11/2023, tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, Bùi Văn Ú và đồng phạm lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của Công ty TNHH H3 đã lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 25.717.000 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm mười bảy nghìn đồng).
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, bị cáo đã thực hiện tội phạm mà không nghĩ đến sự trừng phạt của pháp luật. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu ngày 12/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 04 tháng 04 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 17/2021/HS-ST, sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo không tu dưỡng, rèn luyện lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty TNHH H3 do ông Nguyễn Nhựt T1 làm đại diện theo ủy quyền yêu cầu bồi thường số tiền 4.410.000 đồng (bốn triệu bốn trăm mười nghìn đồng). Yêu cầu này đã được ghi nhận trong Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với các vật chứng của vụ án đã được thu hồi, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã giao lại Công ty quản lý, sử dụng. Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 79N9-6270, là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, xe mô tô đã được giải quyết trả cho ông Trần Văn K (sinh năm: 1978; địa chỉ: ấp K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang) theo Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Như vậy, Cáo trạng số 04/CT-VKS.BTU ngày 18/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo Bùi Văn Ú về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, sớm nhận ra lỗi lầm của mình, an tâm cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Xét vai trò đồng phạm của bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, bị cáo T2 là người khởi xướng rủ rê, các bị cáo T2, H1, Ú đều là người thực hành tích cực.
Xét thấy, mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Ú phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị Bùi Văn Ú 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2024.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Bùi Văn Ú phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đền vụ án và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Tiến Lợi |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản Bùi VĂN u
