|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 18/2025/HS-PT Ngày 26 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Danh;
Ông Nguyễn Duy Sơn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:
Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 156/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn M do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo bị kháng nghị:
Nguyễn Văn M, sinh ngày 14/3/2005; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị N; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 48/2003/HS-ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xử phạt 01 năm 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm 08 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng (thời điểm phạm tội ngày 03/5/2022 M 17 tuổi 01 tháng 19 ngày).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2024, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Hồng Ca, tỉnh Yên Bái; (có mặt)
- Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn M, sinh năm 2005 trú tại thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc quen và biết anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2005 trú tại thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có 01 chiếc xe mô tô loại SH125I (BKS 88D1-477.44) nên M đã nảy sinh ý định lừa mượn chiếc xe mô tô trên của anh T để mang đi bán lấy tiền tiêu sài. Đến khoảng 13 giờ ngày 26/3/2024, M gặp anh T tại quán nước ở thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, M lừa hỏi mượn chiếc xe mô tô trên của anh T (có viết giấy mượn xe) và hứa hẹn đến 18 giờ cùng ngày sẽ trả lại xe thì được anh T đồng ý giao xe cùng giấy tờ xe cho M. Ngay sau khi mượn được xe, M đi đến cửa hàng mua bán xe của anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1991 tại xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc và bán chiếc xe trên cho anh S được số tiền 50.000.000đ, có viết giấy tờ mua bán xe. Anh S trả tiền cho M bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 1860101028888 Ngân hàng thương mại cổ phần Q đến số tài khoản 1045577263 của M mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần N2. Đến tối cùng ngày không thấy M đem trả xe, anh T nhiều lần liên lạc với M yêu cầu M trả xe nhưng không được nên đến ngày 30/3/2024 anh T viết đơn trình báo cơ quan công an. Cùng ngày, M đến công an huyện L đầu thú. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra, M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và tự khai nhận:
Ngày 26/3/2024, sau khi bán xe xong, M chuyển khoản trả nợ cho anh Tạ Ngọc T1, sinh năm 1999 trú tại thôn S, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc số tiền 5.900.000đ và anh Nguyễn Anh T2, sinh năm 1992 trú tại thôn L, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc số tiền là 10.200.000đ. Khi này trong số dư tài khoản ngân hàng của M còn lại số tiền 35.000.000đ (trước khi bán xe thì M có 1.300.000đ trong tài khoản). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, M đã sử dụng chiếc điện thoại Iphone 6S Plus của M (bên trong gắn 01 sim số thuê bao 0389272623) có kết nối mạng internet truy cập vào ứng dụng Safari của điện thoại nhập từ khóa tìm kiếm “sun20.win” cài đặt ứng dụng “Sun Muna” về điện thoại để đánh bạc và đăng ký tài khoản “uytin05hhhh”, mật khẩu đăng nhập là “Manh88”. Trên ứng dụng “Sun Muna” hiện lên tên nhiều ngân hàng, từng ngân hàng sẽ hiển thị nhiều số tài khoản có thông tin cá nhân cụ thể để M lựa chọn chuyển khoản nạp tiền mua điểm đánh bạc với tỷ lệ quy đổi là 1:1 (tức là nạp số tiền 1.000.000đ thì trong ứng dụng hiện lên là 1.000.000 điểm game, cũng là 1.000.000đ nếu rút ra tiền VNĐ). M dùng tài khoản ngân hàng 1045577263, mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N2 (V) của M để thực hiện việc nạp và rút tiền qua tài khoản “uytin05hhhh”. Hồi 17 giờ 02 phút, Mạnh nạp số tiền 20.000.000đ (chuyển khoản đến số tài khoản 1392195054 Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 tên “NGUYEN NGO THANH HAU”) để tham gia đánh bạc bằng các hình thức Tài xỉu, MiniPoker, Sicbo Tài Phú. Đến 17 giờ 50 phút cùng ngày, M thua hết toàn bộ số tiền trong tài khoản, M không đăng xuất mà nạp tiếp số tiền 15.000.000đ (chuyển khoản đến số tài khoản 19050164060010 Ngân hàng Thương mại cổ phần K (T5) tên “NGUYEN HUU HOANG NGUYEN”) để tiếp tục chơi đánh bạc bằng các hình thức T3 xỉu, Sicbo T. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, M thua hết toàn bộ số tiền đã nạp để đánh bạc và tài khoản đánh bạc còn lại 0đ nên M đã đăng xuất khỏi ứng dụng và không chơi nữa.
* Kết quả định giá tài sản:
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐG của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: trị giá của chiếc xe mô tô BKS: 88D1-477.44 Mạnh chiếm đoạt của anh T là 67.000.000đ.
* Kết quả xác minh:
- Tại công văn trả lời số 366/STTTT-TTHTTT ngày 03/4/2024 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Vĩnh Phúc, xác định: Có tồn tại trang mạng với đường dẫn http://sun20.winNgày đăng ký: 19/3/2023; ngày hết hạn 19/3/2025; nhà đăng ký, quản lý: Nước ngoài (DYNADOT LLC); chủ sở hữu: Không thể xác định. Không thể xác định do trang mạng sử dụng dịch vụ ẩn địa chỉ máy chủ. Sở Thông tin và Truyền thông không quản lý, cấp phép hoạt động cho trang mạng “sun20.win” và trang web này không hiển thị thông tin liên quan đến giấy phép hoạt động tại Việt Nam. - Tại công văn trả lời số 10851085/VNNIC ngày 08/4/2024 của Internet (VNNIC) - Bộ Thông tin và truyền thông xác định:
+ Website: http://sun20.winđộng dưới tên miền quốc tế sun20.win, đăng ký trực tiếp với tổ chức quốc tế ở nước ngoài, các thông tin liên quan đến tên miền do tổ chức cung cấp liên quan đến dịch vụ lưu trữ quản lý. Qua tra cứu thông tin chi tiết của tên miền quốc tế tại địa chỉ: http://whois.icann.orgcho thấy: Tên miền sun20.win đăng ký qua Công ty D; sử dụng dịch vụ ẩn dấu thông tin.
+ Theo tra cứu tại trang web http://www.kloth.net/services/nslookup.php- trang web tra cứu địa chỉ IP, tên miền sun20.win có địa chỉ IP là 104.18.4543 và 104.18.5.54 thuộc vùng 104.16.0.0/12 được tổ chức quản lý IP/ASN khu vực B (ARIN) cấp cho Cloudflare, Inc tại Mỹ. Do các vùng địa chỉ trên không thuộc quản lý của Việt Nam, việc xác minh sử dụng địa chỉ IP phụ thuộc vào dữ liệu lưu trữ của doanh nghiệp đang quản lý trực tiếp địa chỉ.
- Tại công văn trả lời số 686/PTTH&TTĐT ngày 02/4/2024 của Cục Pháp thanh, truyền hình và Thông tin điện tử - Bộ Thông tin và truyền thông xác định: Các hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc qua mạng là hành vi bị cấm theo pháp luật hiện hành; Cục Phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử - Bộ Thông tin và truyền thông không thẩm định, cấp bất cứ giấy phép hoạt động nào cho các ứng dụng, phần mềm liên quan đến trang web “http://sun20.win". Do vậy, Cục Phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử - Bộ Thông tin và truyền thông không có các thông tin liên quan đến tên miền nêu trên.
Trưng cầu giám định:
Tại bản kết luận giám định số 928/KL-KTHS của phòng Kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus của Nguyễn Văn M sử dụng để đánh bạc ngày 26/3/2024, kết luận: Trích xuất và thu được 53 ảnh chụp màn hình điện thoại thể hiện giao diện game, thông tin tài khoản, lịch sử nạp tiền, lịch sử rút tiền, lịch sử chơi, từ tài khoản có tên đăng nhập “uytin05hhhh”, mật khẩu “Manh88” đăng nhập tại ứng dụng “Sun Muna” cài đặt trên mẫu vật gửi giám định, kèm theo phụ lục giám định.
Kết quả xác minh tại Ngân hàng:
- Ngày 02/4/2024, Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 (V) - Chi nhánh V1 có Văn bản trả lời số 383 và sao kê chi tiết giao dịch của số tài khoản 1045577263, xác định: chủ số tài khoản là Nguyễn Văn M, sinh năm 2005 trú tại thôn D, xã T, huyện L- Vĩnh Phúc.
- Ngày 05/4/2024, Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M1) có Văn bản trả lời số 278 trong đó xác định chủ tài khoản ngân hàng số 1860101028888 là Nguyễn Thị L, sinh năm 1991 trú tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 26/3/2024, từ tài khoản của chị L (vợ anh Nguyễn Thanh S) có chuyển cho M tổng số tiền 50.000.000đ (tiền M bán xe cho anh S). Quá trình điều tra xác định: vợ chồng chị L, anh S mua xe của M và không biết đó là tài sản do M phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị L và anh S là có căn cứ.
- Ngày 17/7/2024 Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M1) đã có Văn bản trả lời số 884 và sao kê chi tiết giao dịch của số tài khoản 0787089949, xác định: chủ tài khoản là Nguyễn Anh T2, sinh năm 1992, trú tại xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 09/8/2024 Ngân hàng thương mại cổ phần C1 (V2) đã có Văn bản trả lời số 383 và sao kê chi tiết giao dịch của số tài khoản 103870568762, xác định: chủ tài khoản là Tạ Ngọc T1, sinh năm 1999 trú tại xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả điều tra xác định: anh T1 và anh T2 không biết số tiền M chuyển khoản trả nợ cho anh T1 và anh T2 là tiền do M phạm tội mà có. Anh T4 và anh T2 đã sử dụng hết số tiền trên nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
- Ngày 02/4/2024 Ngân hàng thương mại cổ phần N2 (V) đã có Văn bản trả lời số 382 và sao kê chi tiết giao dịch của số tài khoản 1392195054, xác định: chủ tài khoản là Nguyễn Ngô Thanh H1, sinh năm 2004 trú tại số nhà K, đường Ô, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Kết quả điều tra xác định: Vào khoảng tháng 02/2024, anh H1 làm nhân viên thu ngân tại quán G tại thành phố Đà Nẵng có gặp một nam thanh niên giới thiệu tên Võ Hoàng Gia A. Sau đó, Võ Hoàng Gia A nhờ anh H1 mở giúp tài khoản ngân hàng để người này sử dụng thì anh H1 đồng ý. Anh H1 không xác định được tên tuổi, địa chỉ của Võ Hoàng Gia A và không biết tài khoản trên được dùng trên ứng dụng “Sun Muna” để các đối tượng nạp và rút tiền đánh bạc. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.
- Ngày 09/4/2024 Ngân hàng thương mại cổ phần K (T5) đã có Văn bản trả lời số 22 và sao kê chi tiết giao dịch của số tài khoản 19050164060010, xác định: chủ tài khoản là Nguyễn Hữu Hoàng N1, sinh năm 2004, trú tại số nhà K, đường P, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. Kết quả điều tra xác định: Khoảng tháng 9/2023, anh N1 có tình cờ gặp 01 người phụ nữ không quen biết, người phụ nữ này đã nhờ anh N1 đăng ký mở giúp 01 tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần K (T5) để người này phục vụ kinh doanh thì anh N1 đồng ý, anh N1 không biết người phụ nữ này là ai, tên tuổi và ở đâu và không biết tài khoản trên được dùng trên ứng dụng “Sun Muna” để các đối tượng nạp và rút tiền đánh bạc. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau. Kết quả giao dịch của các tài khoản trên phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn M về số tiền chuyển đi, đến trong ngày 26/3/2024.
Vật chứng vụ án:
- - 01 (Một) chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 88D1-477.44. Quá trình điều tra, xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn T. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn T là đúng chủ sở hữu.
- - 01 (Một) điện thoại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone6 Plus (bên trong có gắn 01 thẻ sim có in hàng số 8984048000927532593, số thuê bao 0389272623) là công cụ, phương tiện M sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước.
- - 01 giấy bán xe, 01 giấy mượn xe đề ngày 26/3/2024 là tài liệu chứng minh tội phạm nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thanh S và chị Nguyễn Thị L yêu cầu M phải trả lại cho anh S, chị L số tiền 50.000.000đ mà anh S đã trả tiền mua xe mô tô của M.
Bị hại anh Nguyễn Văn T có mặt tại phiên tòa xác nhận đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và tội “Đánh bạc"
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 và Điều 104 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (hai) năm 07 (bảy) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo phải chấp hành chung của cả hai tội là 05 (năm) năm 11 (mười một) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 01 năm 10 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/3/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus, màn hình cảm ứng, bên trong lắp sim của Nguyễn Văn M là phương tiện M sử dụng để đánh bạc và tịch thu tiêu hủy đối với thẻ sim.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/9/2024 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện L).
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 và Điều 357 Bộ luật Dân sự
Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường cho anh Nguyễn Thanh S và chị Nguyễn Thị L số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền trên người phải thi hành án không trả được thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 08/10/2024 Tòa án nhân dân huyện L ban hành “Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án” số 10/2024/TB-TA với nội dung:
“Về nội dung tại dòng 3 từ dưới lên trang 10 của bản án sơ thẩm nêu trên ghi: “...tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/3/2024.”
Nay được bổ sung như sau: “Tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/3/2024 được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 06/02/2023 đến 31/3/2023 tại bản án số 48/2023/HS-ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.”
Ngày 15/10/2024 Tòa án nhân dân huyện L ban hành “Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án” số 11/2024/TB-TA với nội dung:
“Về nội dung tại dòng 19 từ trên xuống trang 11 của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “...đồng án phí hình sự sơ thẩm.”
Nay được bổ sung như sau: “...đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đ án phí dân sự”.
“Về nội dung tại dòng 23 từ trên xuống trang 11 của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “...hoặc bản án được tống đạt hợp lệ”.
Nay được bổ sung như sau: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”
Ngày 14/10/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 441/QĐ-VKS kháng nghị một phần đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo M không có ý kiến gì đối với nội dung kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện L tỉnh Vĩnh Phúc, sửa một phần bản án sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc về phần án phí dân sự có giá ngạch, buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 2.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 13 giờ ngày 26/3/2024, tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn M, sinh năm 2005 trú tại thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2005 trú tại thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc 01 chiếc xe mô tô BKS 88D1-477.44 trị giá 67.000.000đ.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, M sử dụng điện thoại di động kết nối mạng internet tải ứng dụng đánh bạc “Sun Muna” về điện thoại, đăng ký tài khoản “uytin05hhhh” (mật khẩu đăng nhập “Manh88”). Sau đó M dùng số tài khoản 1045577263 ngân hàng Thương mại cổ phần N2 (V) của M chuyển tiền để nạp vào tài khoản “uytin05hhhh” của M tham gia cá cược được thua bằng tiền, bằng các hình thức Tài X, Mini P và S1 tài phú. M đã 02 lần nạp tiền vào các tài khoản ngân hàng mặc định trên ứng dụng của nhà phát hành để đánh bạc với tổng số tiền 35.000.000đ, cụ thể: Hồi 17 giờ 02 phút cùng ngày, nạp số tiền 20.000.000đ, đánh bạc thua hết; Hồi 15 giờ 50 phút cùng ngày, tiếp tục nạp số tiền 15.000.000đ, đều đánh bạc thua hết.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo phạm tội tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và tội “Đánh bạc”. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Về trách nhiệm dân sự: Bản án sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường cho anh Nguyễn Thanh S và chị Nguyễn Thị L số tiền 50.000.000 đồng là đúng pháp luật.
[2] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L về án phí dân sự sơ thẩm thì thấy:
Phần Quyết định của Bản án sơ thẩm đã tuyên: "Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường cho anh Nguyễn Thanh S và chị Nguyễn Thị L số tiền 50.000.000đồng”.
Bị cáo M không thuộc các trường hợp được miễn án phí. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm lại không buộc bị cáo M phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với phần yêu cầu bồi thường của anh S, chị L là vi phạm khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 21; khoản 6 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Đáng ra bản án sơ thẩm phải buộc bị cáo M chịu án phí dân sự có giá ngạch là 50.000.000đ x 5% = 2.500.000đ. Việc bản án sơ thẩm không buộc M phải chịu án phí dân sự có giá ngạch như trên là thiếu sót, ảnh hưởng đến ngân sách của Nhà nước.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm ban hành “Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án” số 11/2024/TB-TA ngày 15/10/2024 về án phí sau ngày Viện kiểm sát kháng nghị nên “Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án” số 11/2024/TB-TA ngày 15/10/2024 không có cơ sở. Hơn nữa việc sửa chữa, bổ sung bản án không đúng quy định của khoản 1 Điều 261 Bộ luật Tố tụng hình sự.
“Điều 261. Sửa chữa, bổ sung bản án
1. Không được sửa chữa, bổ sung bản án trừ trường hợp phát hiện có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai.
Việc sửa chữa, bổ sung bản án không được làm thay đổi bản chất vụ án hoặc bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.”
Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự. Sửa bản án sơ thẩm, quyết định bổ sung nội dung Nguyễn Văn M phải chịu 2.500.000đ án phí dân sự có giá ngạch trong vụ án hình sự.
[3] Đối với nội dung kháng nghị: “Bên cạnh đó, bản án không áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án hình sự và không tuyên quyền yêu cầu thi hành án của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ”.
Hội đồng xét xử thấy rằng, nội dung Điều 26 Luật Thi hành án hình sự thuộc Chương III của Luật Thi hành án hình sự, quy định về “Thi hành án phạt tù” không liên quan đến án phí dân sự, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, không liên quan đến nội dung Tòa án cần phán quyết khi xét xử vụ án hình sự đối với Nguyễn Văn M. Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L viện dẫn Điều 26 Luật Thi hành án hình sự cho thấy Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L không nghiên cứu kỹ pháp luật, chỉ dẫn điều luật sai bản chất cần kháng nghị, Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng nghị này. Đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L rút kinh nghiệm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí phúc thẩm: Theo quy định của pháp luật kháng nghị không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc về án phí.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 và Điều 104 Bộ luật Hình sự:
- Về xử lý vật chứng.
- Về trách nhiệm dân sự.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị Nguyễn Văn M phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L không phải nộp án phí.
- Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (hai) năm 07 (bảy) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo phải chấp hành chung của cả hai tội là 05 (năm) năm 11 (mười một) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 01 năm 10 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/3/2024, được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 06/02/2023 đến 31/3/2023 tại bản án số 48/2023/HS-ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus, bên trong lắp sim của Nguyễn Văn M là phương tiện M sử dụng để đánh bạc và tịch thu tiêu hủy đối với thẻ sim.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/9/2024 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện L)
Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường cho anh Nguyễn Thanh S và chị Nguyễn Thị L số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không thanh toán đủ khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vĩnh Thành |
Bản án số 18/2025/HS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội đánh bạc)
- Số bản án: 18/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Viện kiểm sát kháng nghị về án phí dân sự trong vụ án hình sự)
