TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày: 28 - 02 - 2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Anh.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đức Chạc.
Bà Dương Thị Vui.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên toà: Ông Trần Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST - HS ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Đào Văn T, sinh năm 1960 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn M, sinh năm 1929 (Đã chết) và bà Mai Thị C, sinh năm 1931 (Đã chết); có vợ là Trần Thị Đ, sinh năm 1960; có 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1991; gia đình có 07 chị em, bị cáo là thứ năm; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 29/12/2023, bị Ủy ban nhân dân xã H, H, xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Chiếm đoạt tài sản”; nhân thân: Ngày 23/8/1980 bị Ủy ban nhân dân tỉnh H đưa đi tập trung giáo dục cải tạo 03 năm theo Quyết định số 731-QĐ ngày 22/8/1980 của Ủy ban nhân dân tỉnh H. Bị cáo Đào Văn T được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/12/2024 đến nay; có mặt.
Bị hại: Ông Vũ Hữu D, sinh năm 1932
Địa chỉ: Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 23/11/2024, Đào Văn T đến nhà ông Vũ Hữu D, sinh năm 1932, ở đội A, xã N, huyện N chơi. Khi đi vệ sinh, T nhìn thấy ở đầu giường phòng ngủ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A05 màu đen nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T bỏ điện thoại trên vào túi quần rồi ra phòng khách tiếp tục nói chuyện với ông D. Sau đó T đi về nhà, tắt nguồn điện thoại và để trong tủ quần áo của gia đình. Sau đó, Đào Văn T đến Công an xã N đầu thú và giao nộp điện thoại di động.
Tại bản kết luận số 41/HĐ-ĐGTS ngày 05/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận: Giá trị hiện tại của 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A05, màu đen, số sêri R93WB02A00K, IMEI: 354035908494030 và 354978668494031 là 1.300.000 đồng. Giá trị hiện tại của 01 sim số 0364996788 là 20.000 đồng. Tổng cộng: 1.320.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Đào Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như tội danh và điều luật đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đào Văn T từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Đề nghị xử lý về việc nộp án phí theo quy định.
Không ai có ý kiến tranh luận:
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo ăn năn hối hận, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị hại không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về định tội danh: Lời khai nhận của bị cáo Đào Văn T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà hôm nay. Như vậy đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ ngày 23/11/2024, tại nhà ông Vũ Hữu D có địa chỉ tại Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, Đào Văn T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động của ông Vũ Hữu D có trị giá 1.320.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi bị cáo đã thực hiện xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc, gây nên dư luận xấu trong nhân dân ở khu vực. Bị cáo Đào Văn T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn tiếp tục vi phạm nên hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng truy tố với tội danh cùng điều luật nêu trên là có căn cứ, hoàn toàn đúng người, đúng tội.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra sau khi trộm cắp tài sản, nhận thức được hành vi sai trái, bị cáo đã ra đầu thú và bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo T được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có 01 tiền sự nhưng đó là yếu tố định tội danh do tài sản mà bị cáo trộm cắp có giá trị là 1.320.000 đồng; bản thân bị cáo đã 65 tuổi và đã nhận thức được hành vi vi phạm, bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử lý bị cáo là phù hợp, không cần cách ly khỏi xã hội vẫn đảm bảo việc răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy bị cáo là người có điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu bồi thường khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A05 màu đen, số sim 0364.996.788, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho ông D là phù hợp.
[8] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[9] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Đào Văn T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành án.
- Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Bị cáo Đào Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông Vũ Hữu D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được được niêm yết theo quy định pháp luật.
Giao bị cáo Đào Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Miễn khấu trừ thu nhập và miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Đào Văn T.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Văn Anh |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ ngày 23/11/2024, tại nhà ông Vũ Hữu D có địa chỉ tại Đội A, xã H, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, Đào Văn T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động của ông Vũ Hữu D có trị giá 1.320.000 đồng
