|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày: 25/02/2025 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bạch Hưng Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hòa và ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Thế Q, (tên gọi khác: Không); sinh năm 1993 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Thanh T và bà Bùi Thị H; có vợ là Võ Thị T1 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 23/6/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 17 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2012, chấp hành xong phần án phí hình sự ngày 08/8/2021.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2024 đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi liên quan: Chị Võ Thị T1, sinh năm 1996.
Nơi cư trú: Xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).
Người làm chứng: Anh Trần Văn T2 và anh Hồ Nhân P (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06/11/2024, Cao Thế Q gọi điện cho anh Hồ Nhân P sang nhà Q để nhờ tí việc thì P đồng ý. Sau đó, Q gọi điện thoại cho một người đàn ông tên N (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua một gói ma túy hồng phiến thì N đồng ý bán với giá 3.500.000 đồng và hẹn Q đi đến khu vực Cầu L để lấy ma túy. Lúc này, Q nói với P đi cùng Q ra đây có tý việc nhưng không nói rõ đi đâu, làm gì thì P đồng ý. Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F2- 603.18 chở P đi đến điểm hẹn. Khi đến nơi, P đứng cạnh xe mô tô để chờ, còn Q đi bộ khoảng 20 mét để gặp N. N đưa cho Q một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Sea Bird màu nâu, bên trong có chứa 01 gói ma túy hồng phiến. Q cầm lấy gói ma túy bỏ vào túi áo khoác phía trước bên phải mà Q đang mặc và đi đến chỗ P rồi cả hai đi về đến đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Trạm Cảnh sát giao thông Diễn Châu thuộc Phòng C Công an tỉnh N kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang lúc khoảng 12 giờ 40 cùng ngày.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 06/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và bản Kết luận giám định số 937/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 13/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ của Cao Thế Q gửi tới giám định là ma túy Methamphetamine. Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ khi bắt quả tang Cao Thế Q có tổng khối lượng là 20,31 gam.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS-DC ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố Cao Thế Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Cao Thế Q từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Cao Thế Q sau khi lấy mẫu giám định gồm 17,34 gam ma túy Methamphetamine, 01 vỏ bao thuốc là Sea Bird, 01 vỏ gói nilon màu xanh, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu và bao bì niêm phong ban đầu; sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8Z 5G màu vàng thu giữ của Cao Thế Q; trả lại cho chị Võ Thị T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 37F2- 603.18.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, nội dung cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận vào khoảng 12 giờ 40 phút ngày 06/11/2024, tại Km 422+ 300 Quốc lộ A, thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Cao Thế Q thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 20,31 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Trạm Cảnh sát giao thông Diễn Châu thuộc Phòng C Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Đánh giá nhân thân, tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo có nhân thân xấu, đã một lần bị kết án về tội “Cướp tài sản”, tuy đã được đương nhiên xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại sa vào con đường nghiện ngập, tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và suy yếu nòi giống của dân tộc. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được tác hại to lớn của ma túy, nó thực sự là một hiểm họa lớn đối với con người và xã hội, làm xói mòn đạo đức lối sống, đồng thời là căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Nhưng do không làm chủ được bản thân trước sự cám dỗ của ma túy nên đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Thời gian gần đây, mặc dù các cơ quan chức năng đã áp dụng nhiều biện pháp đấu tranh phòng chống, Tòa án các cấp áp dụng nhiều hình phạt nghiêm khắc nhưng tội phạm về ma tuý trên địa bàn huyện nhà vẫn chưa có chiều hướng thuyên giảm mà còn xảy ra nhiều với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, phức tạp hơn. Vì thế cần phải xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian với mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối. Bố đẻ của bị cáo là người được hưởng trợ cấp hàng tháng đối với người hoạt động cách mạng bị địch bắt tù đày; mẹ đẻ của bị cáo có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào mức hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Bởi vậy cần xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[6] Về xử lý vật chứng:
20,31 gam ma túy Methamphetamine thu giữ của Cao Thế Q, đã sử dụng hết 2,97 gam để giám định, còn lại 17,34 gam cùng các vật dụng đóng gói đã được niêm phong là vật chứng cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu hủy.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8Z 5G bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy, là vật liên quan đến tội phạm, cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước.
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 37F2- 603.18 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, do bị cáo đứng tên đăng ký. Việc Cao Thế Q sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội, vợ của bị cáo là chị Võ Thị T1 không biết. Do vậy, cần trả lại cho chị Võ Thị T1 vì không còn ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Đối với anh Hồ Nhân P là người đi cùng Cao Thế Q để lấy ma túy nhưng anh P không biết việc Q mua lấy ma túy nên không đồng phạm.
Đối với người đàn ông tên N là người bán ma túy cho Cao Thế Q. Qua xác minh tại địa phương, không có người nào có đặc điểm, lai lịch như lời khai của Q nên không có cơ sở để xử lý.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Xử phạt: Cao Thế Q 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 06/11/2024).
- Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Cao Thế Q sau khi lấy mẫu giám định gồm: các viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau là ma túy có tổng khối lượng 17,34 gam, 01 vỏ bao thuốc là Sea Bird màu nâu, 01 gói nilon màu xanh, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu và bao bì niêm phong ban đầu để tiêu hủy.
Sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8Z 5G màu vàng, đã qua sử dụng, số Imeil: 863931065199716, số I: 863931065199708.
Trả lại cho chị Võ Thị T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 37F2- 603.18, đã qua sử dụng.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho 25NK0053 ngày 21/01/2025.
- Án phí: Cao Thế Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạch Hưng Thành |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thế Quý về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 điều 249 của Bộ luật hình sự.
